Font Size

Profile

Menu Style

Cpanel
Trên Đồi Hoa Dại của Nguyễn Thị Ngọc Dung PDF Print E-mail
Written by Editor   
Tuesday, 14 May 2013 16:57

TRÊN ĐỒI HOA DẠI

* Truyện ngắn NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG

Thuở còn học lớp sáu, lớp bẩy, Dũng và mấy đứa bạn cùng xóm, cùng trường thường lên đây chơi thả diều, bắt bóng, đá banh. Vùng đồi cỏ còn trống trơn, sự mở mang xây cất chưa lan tràn tới, không nhà cửa và vắng bóng người.  Cây thông già đứng chơ vơ trên mô đất cao nhất.  Lác đác đây đó những tảng đá lớn nhỏ trông xa như những con cừu trắng đang gậm cỏ.  Bình minh lên từ hướng nhà Dũng phía sau.  Hoàng hôn xuống dưới thung lũng bên kia đồi đằng trước.

            Tuổi niên thiếu, vài lần Dũng xin phép cha mẹ cho sang nhà bạn ngủ nhưng kỳ thực bọn Dũng rủ nhau dựng lều cắm trại, vặn nhạc kích động qua máy xách tay suốt đêm dưới trời cao đầy tinh tú trăng sao.  Mùa đông tuyết trắng xoá thật tuyệt vời chơi sled, ski vèo vèo từ đỉnh đồi xuống chân đồi, chơi ném tuyết, đắp người tuyết cả tháng không tan. Dũng như còn nghe tiếng cười đùa vô tư vang vọng trong vùng không gian bao la xa vời tầm mắt.

            Gần chục năm làm việc tại các tiểu bang khác, Dũng chỉ về thăm cha mẹ và hội họp anh em, các cháu vào dịp công tác sở, lễ Giáng Sinh hay Độc Lập. Anh em Dũng sau khi tốt nghiệp đại học, kẻ có vợ, người có chồng hay còn độc thân cũng đều ở riêng hoặc đi làm việc xa.  Họ muốn tập trưởng thành, sống tự lập, không dựa vào cha mẹ.  Trung ương sở của Dũng tại Virginia, chàng có thể làm việc lâu dài tại đây.  Nhưng tuổi trẻ, chưa vướng bận vợ con, thích du lịch, thăm thú các vùng đất lạ và lại được lên chức, lên lương nhanh hơn, Dũng xin đi làm tại Atlanta, San Francisco, Dallas gần mười năm.

            Tới nay, vì tình trạng kinh tế khó khăn chung, nhiều chi nhánh hãng Dũng bị đóng cửa, nhiều nhân viên bị sa thải. May mắn, Dũng được thay thế một ông giám đốc đã thâm niên tại trung ương, nên chàng vừa về tới nhà cha mẹ chiều qua.  Sáng nay Thứ Bẩy, từ cửa sổ phòng ngủ, một hấp lực nào đó khiếùn Dũng không thể cưỡng lại ý định đi bộ lên ngọn đồi xanh mướt chan hòa ánh nắng.

            Dũng lững thững lên đồi cỏ còn ướt sương, lốm đốm hoa trắng, hoa vàng, hoa tím.  Đàn chim nhỏ bay vù ra xa khi chàng đến gần. Những tảng đá đây đó như chờ khách bộ hành dừng chân ngồi nghỉ.  Không biết tên Dũng và bạn bè còn trên đá không, hay đã bị mưa nắng gội xóa?  Kỷ niệm thuở thiếu thời lang thang trên đồi chợt trở về.  Dũng hồi hộp tiến lại tảng đá lớn gần nhất.  Chàng nhìn ngay thấy tên mình được viết bằng sơn đen đã phai, còn màu xám nhạt.  Tên của Mike tóc đỏ, John tàn nhang, Jeff tóc bờm, Dick cà lăm vẫn còn đó.  Chàng nào cũng có gia đình và dọn đi nơi khác. Nhà đổi chủ cả chục lần. Chỉ cha mẹ Dũng, Ông Bà Hậu vẫn ở một chỗ. Thế hệ người Việt như ông bà đã bị di cư, di tản năm lần bẩy lượt, họ không thích di chuyển nữa. 

            Ông Hậu làm việc tại Hoa Thịnh Đốn cho chính phủ Việt Nam cũ từ thời Sài Gòn chưa đổi tên.  Sau tháng tư 1975, ông xin được việc làm cho Liên Bang.  Bà bán hàng tại một tiệm bách hóa sang trọng, đắt tiền. Họ mua căn nhà này và ở đây từ hồi ấy. Ông Hậu là trưởng tộc ở hải ngoại nên mọi việc thờ phượng tổ tiên, họp mặt gia đình, anh em, họ hàng đều được giữ gìn và tiếp tục dưới mái nhà khiêm tốn dần dần được sửa sang nới rộng thêm.  Căn nhà không lớn nhưng có hơn mẫu đất rộng để ông bà Hậu vui cảnh điền viên.

 Dưới thung lũng sau lưng là khu nhà Dũng ẩn nấp trong lùm cây. Mặt trời đã ở trên đầu.  Chàng tiếp tục đi lên mô đất cao nhất có cây thông già hiên ngang đứng giữa vùng đồi cỏ mênh mông.  Bên gốc cây có tảng đá lớn cũng được chàng và các bạn cũ khắc tên.  Bây giờ chỉ còn một mình Dũng trở về thăm cảnh xưa.  Một tiếng thở dài thoát ra khỏi lồng ngực.   Chàng không buồn, không nuối tiếc kỷ niệm, nhưng nỗi cô đơn nào man mác bao vây.  Dũng định đi tới ngồi nghỉ trên phiến đá thì ngỡ ngàng nhìn thấy vùng hoa rực rỡ bát ngát như những làn sóng màu đỏ, màu xanh, màu vàng, màu trắng nối tiếp nhau rập rờn dưới chân đồi trước mặt.  Chàng chưa bao giờ lạc giữa cảnh hoa như vậy trong vùng này.  Có thể hoa được trồng nhiều năm nay mà Dũng đi làm xa, không trở về vào mùa xuân nên không trông thấy.  Chiều qua, trên đường về từ phi trường, Dũng ngạc nhiên thấy lần đầu tiên những thảm hoa cùng màu xuất hiện trên khắp các ngả đường trong tỉnh. 

            Sau mấy giây nín thở vì cảnh đẹp như đang đợi người vẽ, Dũng hít một hơi dài, rảo bước xuống đồi và đi về phía thung lũng hoa.  Đến gần, hoa màu trắng càng trắng muốt, hoa màu đỏ càng đỏ như lửa, hoa màu xanh càng xanh biếc, hoa màu vàng càng rực rỡ hơn.  Tự nhiên Dũng nẩy ra ý định muốn vẽ cảnh hoa này tặng ba mẹ chàng nhân dịp kỷ niệm cưới của ông bà vào tháng tới.  Ông Bà Hậu chỉ có tranh in treo trên tường trong phòng khách.  Chàng có cảm tưởng đang đứng trước giá vẽ.  Sơn màu hình như tuôn ra từ những ngón tay của Dũng và lai láng chảy trên khung vải trắng trơn... 

            Sáng sớm hôm sau, khi ánh mặt trời vừa lấp ló qua hàng cây bên ngoài cửa sổ nhà bếp, Dũng ăn điểm tâm xong và ra khỏi cửa.  Một tay xách cái túi lớn trong có khung vải và cái khay có chân gấp bằng nhôm nhẹ. Một tay xách thùng dụng cụ sơn vẽ.  Đầu đội nón rơm cow-boy.  Nách kẹp giá tranh.   Chiều qua về nhà, Dũng tìm thấy trong kho gần đủ đồ nghề học vẽ trước kia. Chàng chỉ phải mua vài ống sơn, mấy khung canvas.

            Sau khi tốt nghiệp đại học môn Fine Arts, Dũng xin ngay được việc làm tại một cơ quan giao dịch, trang trí, quảng cáo và chỉ phải sử dụng cọ vẽ trong computer với mắt mỹ thuật và theo yêu cầu của khách hàng.  Dũng không hề dùng tới cái cọ bằng gỗ và lông đuôi ngựa.  Màu sắc các “tác phẩm” được truyền từ computer qua máy in ra giấy, bìa, vải. Ít khi sử dụng đến ngón tay, sơn dầu, sơn nước, phấn màu để vẽ người, vật, phong cảnh.  Càng lên chức, Dũng càng phải lo điều khiển và kiểm soát việc làm nhân viên dưới quyền hơn là sáng tạo.  Cho tới nay, gần như chẳng bao giờ, chàng tự sáng tác cho riêng mình.  Ngoài giờ làm việc hăng say, Dũng thường hội họp với bạn cùng nhà, cùng sở và xem TV hay chơi thể thao như  foot ball, tennis, bóng tròn, bơi lội...  Thậm chí môn golf, chàng cũng có thể thù tiếp mấy ông boss già.

Tuổi trẻ năng động, chàng không thích làm việc đơn độc, tâm trí gò gẫm vào việc gì nếu không là bổn phận và bắt buộc.  Nhưng cảnh đồi đẹp như bức tranh ấn tượng khiến Dũng thay đổi nhịp sống, ít nhất trong tuần lễ được nghỉ trước khi nhận chức mới.

 Dũng đặt đồ nghề bên gốc thông cổ thụ, lấy giấy lau phiến đá cho sạch.  Những nét khắc tên với ngày tháng cũ vẫn còn đọc được dễ dàng.  Chàng mỉm cười nghĩ tới những kỷ niệm ngây ngô nhưng đôi khi cũng rất gay cấn.  Dũng và bạn bè là những “thủ phạm” bị cha mẹ la mắng, bị phạt trừ thù lao vì cái tội đánh mất hay làm mẻ dao, búa trong việc khắc tên ấy.  

            Dũng dựng giá vẽ, khay sơn, cọ, dao... và trộn màu.  Gần mười năm không cầm tới cây cọ và đứng trước cảnh thiên nhiên bát ngát, chàng hơi lúng túng khởi vẽ bức tranh.  Nhưng chỉ một lúc sau, Dũng phác họa được phong cảnh chàng muốn cho vào tranh bằng nước sơn mỏng màu đất nhạt.  Khi mặt trời gần đứng bóng, trên khung vải đã hiện lên một đồi dốc thoai thoải màu hoa đỏ, tím, xanh, trắng, vàng chạy dài xuống thung lũng cỏ non.  Sau vùng hoa đó, nổi bật lên căn nhà nhỏ, mái xanh, tường đỏ.  Một cây liễu rủ cành, nghiêng bóng ao nước lóng lánh sau hiên nhà.  Thấp thoáng trong hàng cây vài ngôi biệt thự mới, đồ sộ.  Mây trắng tản mạn cuối chân trời hồng lên màu nắng.

            Bỗng từ trong căn nhà đỏ dưới thung lũng đi ra một dáng người mà Dũng nhận ngay ra là phụ nữ với xiêm váy dài màu nhạt. Nàng vòng qua ao tiến lên đồi và đi vào giữa vùng hoa rực rỡ chàng đang cho thêm vài nét chấm phá cuối cùng làm nổi bật ánh nắng trong tranh.  Nàng xoay lưng lại phía mặt trời và cúi xuống một hồi lâu, rồi đứng thẳng lên xoay ra bốn phía.  Dũng nhận thấy nàng có bộ tóc dài nhưng cột lại phía sau gáy.  Nàng chụp hình hoa gần, hoa xa xung quanh. Cỏ, hoa hình như nhẩy múa tung tăng với váy dài đến cổ chân của nàng.  Chàng nẩy ra ý định cho nàng vào tranh, nhưng để nàng xõa tóc và không mang máy hình. 

            Dũng vừa định lấy cọ phác họa hình dáng người mẫu trên tranh thì nàng nhìn về hướng chàng và trực chỉ.  Khi còn cách độ trăm thước, Dũng chợt nhận ra nàng còn trẻ và là người Á Đông.  Tự nhiên Dũng cảm thấy hồi hộp nhẹ trong lồng ngực và mong người phụ nữ đi chỗ khác  cho chàng vẽ xong bức tranh.  Các “khán giả”û thường hay hỏi họa sĩ nhiều câu lẩm cẩm làm mất thời giờ khi “người ta” đang mải mê vẽ.  Nàng đưa máy hình lên, hướng xuống thung lũng, chụp vài kiểu nữa rồi tiến tới gần Dũng, yên lặng ngắm tranh.  Chốc chốc nàng lại nhìn ra cảnh như muốn biết cái cọ của họa sĩ đang ở chỗ nào ngoài cảnh thật.  Bất ngờ, ngoài ý định, Dũng buông một tiếng chào “Hi”, tay vẫn không ngừng vẽ.  Nàng mỉm cười quay sang chàng “Hi” đáp lại và cũng không thêm lời nào. Thói quen xã giao, chàng bắt chuyện:

            - Cô chụp được nhiều hình ưng ý không?

            Vẫn chăm chú nhìn tranh, nàng trả lời:

            - Trời đẹp nên tôi hy vọng ảnh đẹp.  Ông ở vùng này không, sao tôi chẳng gặp ông bao giờ?

            - Nhà cha mẹ tôi ở dưới chân đồi đằng sau.  Tôi đi làm xa từ lâu, mới được đổi về đây hai ngày.  Hôm qua chợt thấy cảnh đồi hoa đẹp quá, từ hồi nào đến giờ tôi không thấy, nên mới lấy khung vải ra vẽ.   Có phải cô đi ra từ căn nhà đỏ dưới kia không?

            - Vâng, tôi ở với cha mẹ trong nhà đó. Tranh của ông đẹp lắm.  Ông nên đi xuống dưới kia ngồi vẽ cảnh nhìn lên đồi đẹp không kém.

            - Cảm ơn cô.  Tôi định vẽ cảnh như cô nói.  Nhưng để ngày mai. Nhân thể xin tự giới thiệu, tôi tên Dũng.

            - Ann là tên tôi.  Tên ông đánh vần như thế nào?

            - Z.U.N.G. Tên Việt Nam.  Xin lỗi, cô gốc người gì?

            Ann thích thú:

            - Tôi cũng là người đồng hương với ông đấy?

            Ngạc nhiên, Dũng ngừng tay vẽ, nhướng mắt nhìn Ann.

            - Vậy hả?

            - Đúng vậy.  Tên Việt Nam của tôi là A.N.  Cha mẹ nuôi tôi đọc là Ann cho dễ.

            - ... ?

            Ann đọc được câu hỏi trong mắt người họa sĩ và trả lời:

            - Cha mẹ nuôi tôi là người Mỹ.

            - Cô tới Mỹ năm nào?

            - Ông bà đem tôi ra khỏi trại mồ côi lúc cả hai làm việc tại tòa Đại Sứ Hoa Kỳ Sài Gòn, năm 1971.

            - Cô biết nói tiếng Việt không?

            - Không.  Hồi mới rời Sài Gòn, cha mẹ tôi còn nói chút ít tiếng Việt với tôi. Dần dần chính ông bà cũng quên và không nói tiếng Việt với tôi nữa. Rồi đi tới nước nào, ông bà cũng bắt tôi học tiếng nước đó. Nhưng tôi vẫn thèm nói được tiếng Việt lắm.

            - Cô có bạn Việt Nam không?

            - Tôi quen vài người Việt trên Đại Học.  Nhưng rồi theo cha mẹ đi ngoại quốc.  Nên mất liên lạc với họ.  Ồ, tôi nói nhiều làm mất thời giờ của ông quá.  Tôi nên đi chỗ khác để ông chuyên chú vào việc vẽ chứ!

            Dũng vội vàng giữ Ann lại:

            - Tôi đã vẽ xong cảnh, chỉ còn thiếu người.  Cô có thể đứng làm mẫu cho tôi được không?

            Ann ngạc nhiên, ngập ngừng:

            - Có thật tôi không làm phiền ông không?

            - Trái lại tôi còn muốn cô làm người mẫu trong tranh  tôi ngày mai nữa.

            - Nếu thật như thế, tôi rất hân hạnh.

            Dũng cám ơn người con gái và đứng dậy mời nàng đi ra khỏi bóng cây thông.  Chàng đạo diễn cho nàng đứng vào chỗ như ý muốn:

            - Tôi sẽ phác họa thật nhanh để cô không phải đứng trong nắng lâu.

            Chỉ độ 15 phút sau Dũng mời người mẫu trở về dưới bóng rợp. Dũng vừa nói chuyện với nàng vừa vẽ thêm vài chi tiết trên người trong tranh.  Đôi mắt nàng xa xăm nhìn ra chân trời.  Khuôn mặt trái trứng nõn nà.  Làn tóc óng mượt, xõa ngang lưng, màu bóng cây thẫm;  Xiêm váy màu mây hồng nhạt;  Áo bồng vai trắng màu hoa dưới thung lũng;  Chân đi dép thấp màu ngà.  Nét sơn của Dũng rất mỏng và mềm mại làm hình dáng người tranh thật mong manh dịu dàng không khác gì người mẫu thực sự.  Ann nhìn tranh trầm trồ khen:

            - Tranh ông đẹp hơn cảnh thật nhiều lắm, chẳng kém những tranh ấn tượng tôi được xem trong viện bảo tàng. 

            Dũng nhúng cây cọ vào săng rửa turpentine:

            - Cô quá khen.  Tôi bỏ vẽ lâu rồi nên tay hơi cứng. Mong rằng bức tranh thứ hai, sẽ quen và mềm tay hơn.  Ngày mai mời cô lại ra đây nhé?

            - Tôi nhận lời sáng mai đi nhà thờ với cha mẹ, rồi đi ăn trưa với ông bà.  Tôi có thể ra xem ông vẽ vào khoảng hai giờ chiều.  Có muộn quá không?

            - Rất tốt.  Mặt trời lúc đó sẽ làm sáng khuôn mặt người mẫu của tôi.

Sau khi Ann đi xuống đồi, Dũng thu dọn đồ nghề vẽ.  Buổi gặp gỡ tình cờ vui vẻ với người con gái này là một sự bất thường với chàng.  Tuy là gốc Việt, nhưng Dũng chưa bao giờ làm thân với người Á Đông xa lạ nào ngoài sự xã giao bắt buộc.  Có lẽ Dũng rời quê hương  từ lúc còn rất nhỏ, sống giữa bạn học Mỹ đã quen.  Chàng muốn trưởng thành như công dân Hoa Kỳ.  Khi ra đời, làm việc với đồng nghiệp người Mỹ mà Dũng muốn cạnh tranh, muốn sống ngang hàng với họ.  Theo Dũng, như thế mới là thành công trên quê hương thứ hai này.  Con đường sự nghiệp luôn luôn phải học hỏi, và phấn đấu không ngừng.  Sống trong môi trường như thế đủ vất vả, Dũng không có thời giờ tìm hiểu và đi vào các môi trường khác mà đôi khi Dũng thấy phức tạp hơn, nhiêu khê hơn.

            Tuy nhiên, Dũng đã bị thất vọng trong vấn đề tình cảm.  Từ ngày đi làm, mỗi tiểu bang Dũng đều có bạn gái cho đúng thời trang và qua phút cô đơn.  Chàng xa Lilian ở Atlanta vì chưa sâu đậm đã phải đổi đi San Francisco.  Ở đây, Dũng gặp Joanne, tình cảm tưởng thắm thiết lắm thì nàng bỏ chàng chạy theo người bạn trai  cũ có Corvette bỏ mui, đỏ chói. Dũng xin đổi đi Dallas để không phải nhìn thấy những kẻ đã làm bầm tím lòng chàng.  Dũng bắt đầu dè dặt với phụ nữ và với chính mình. 

            Vậy mà bữa nay Dũng mau mắn làm quen Ann, mặc dù chàng không dự định.  Có lẽ nàng không quá kiêu ngạo, nhút nhát, hay vồ vập như những người con gái khác.  Nàng tự nhiên một cách đoan trang.  Dũng mỉm cười nhìn theo dáng mảnh mai của Ann nhỏ dần dưới chân đồi.  Tên bức tranh Dũng vừa vẽ xong lóe trong tâm trí, Thung Lũng Bình An.

 Mặt trời chưa lên khỏi đỉnh đồi, từ trong cửa sổ phòng ngủ, Ann đã thấy người họa sĩ dựng giá vẽ trên triền đồi hoa.  Nàng thích lối vẽ của Dũng và biết rằng đó là một tài năng đáng quí, đáng phục.  Chàng cũng có vẻ thân thiện và đứng đắn.  Ann cảm thấy thoải mái trong buổi gặp gỡ chiều qua.  Nàng kể chuyện với cha mẹ nuôi, ông bà Smith, về bức tranh mà Dũng vẽ có cái nhà kiểu nông trại của  họ và về đề nghị chàng mời Ann làm người mẫu cho bức tranh khác chiều nay.  Nàng háo hức sửa soạn đi lễ nhà thờ và sẵn sàng cả giờ trước khi lên xe.

            Ông bà Smith mừng thầm, Ann có chỗ đi chơi, không phải đợi cha mẹ nuôi rủ mới đi.  Ông bà hiếm hoi, không có con nên nhận Ann làm con từ viện mồ côi Thủ Đức, trong thời gian cả hai làm việc tại tòa Đại Sứ ở Sài Gòn.  Từ đó Ann được đi nhiều nước Á, Âu gần 20 năm.   Con bé rất dễ nuôi, ngoan ngoãn, thông minh, học giỏi nhưng ít nói, chẳng tham gia hoạt động nhà trường nào.  Vào đại học, Ann không bao giờ có bạn trai.  Sau khi tốt nghiệp, Ann xin ông bà Smith kiếm việc làm cho nàng tại tòa đại sứ họ tại chức.  Nàng ít có cơ hội gặp bạn cùng trang lứa.

            Hiện tại, ông bà Smith đã về hưu.  Ann sống thầm lặng bên cha mẹ trong trang trại rộng hơn 10 mẫu đất họ mua cách nay 30 năm.  Nàng làm việc cho sở xã hội, có dịp gần gũi, giúp đỡ, chia sẻ sự khó khăn với lớp người sống vất vả, thiếu thốn.  Đôi khi ông bà Smith xót xa, lo lắng về sự trầm ngâm, xa vắng của cô con nuôi Việt Nam. Phải chăng Ann có mặc cảm mồ côi, hay trong tâm hồn vẫn tiềm tàng nỗi đau thương, tang tóc  quê hương cũ và hoài tưởng sự mất mát, thiếu sót của đời nàng mà cha mẹ nuôi không thể bù đắp hoàn toàn được? 

            Thực vậy, mặc dù Ann kính yêu, biết ơn ông bà Smith cứu nàng ra khỏi cảnh bạc phước, nàng vẫn cảm thấy lơ lửng như cây không gốc rễ.  Ann sống với nội tâm nhiều hơn giao du với mọi người.  Kể ra, hồi còn ở đại học, nàng làm quen với mấy cô bạn đồng hương và được họ đưa về nhà trong những ngày nghỉ lễ.  Ann để ý tới một sinh viên Việt, nhưng anh ta chỉ coi nàng như bạn vì tình đồng bào.  Khi ra trường anh ta lấy vợ mà cha mẹ hai bên quen biết nhau. Ann vài lần đi chơi riêng với mấy người bạn trai Mỹ.  Nhưng bản tính rụt rè, không dám đi quá giới hạn trước khi yêu thương, xây dựng nên Ann ngưng ở đó và chuyện chẳng bao giờ đi đến đâu.

            Đã từ lâu, Ann không đi tìm đối tượng Mỹ hay Việt nào nữa. Ngoài công việc sở, nàng giúp đỡ cha mẹ lo việc nhà cửa, phụ nấu bếp, tình nguyện trông trẻ nít trong nhà thờ. Ann đưa những đứa trẻ gia đình nghèo nàng quen biết qua công việc, đi picnic, đi công viên, sở thú hay viện bảo tàng. Rất thường Ann tháp tùng ông bà Smith đi coi phim, nghe nhạc, xem kịch, triển lãm, du lịch... Hình như nàng chỉ cảm thấy yên ổn sống quanh quẩn bên cha mẹ.

Nhưng thói quen đó đã bị phá bỏ.  Ann nhận lời làm người mẫu tranh cho một họa sĩ xa lạ.  Hôm nay nàng  nôn nóng đi gặp người đàn ông đồng hương trẻ tuổi đó.  Suốt buổi lễ, Ann bị chia trí, không theo dõi được bài giảng của vị linh mục.  Luôn luôn nàng nghĩ đến triền đồi hoa, người họa sĩ đang vung nét cọ trên tranh. Tại tiệm ăn đông khách, phải xếp hàng chờ đợi lâu, ăn uống chậm rãi với ông bà Smith, Ann tưởng chừng như hết kiên nhẫn.  Nàng tự giải thích, nàng mong nhìn thấy bức tranh mới và hãnh diện được làm người mẫu cho tranh, chứ không phải vì lý do nào khác.

Xe vừa về đến khu đất trống của trang trại, Ann đã nhìn lên đồi tìm kiếm ngay.  Nàng vui mừng trông thấy cái mũ cow-boy rơm trên đồi.  Ann vào phòng cởi vội bộ y phục nghiêm trang màu hồng.  Nàng mặc vào bộ đầm dài rộng khác màu xanh nhạt lấm tấm hoa trắng nhỏ và xỏ chân vào đôi dép mang chiều qua.  Trước khi Ann ra khỏi cửa, bà Smith còn nhắc nàng đội cái mũ cói rộng vành, buộc nơ xanh.      

 Hôm nay, ngồi dưới chân đồi, xoay lưng lại nhà Ann và hướng lên triền đồi hoa, Dũng mải miết vẽ.  Mặt trời chưa đứng bóng, bức tranh gần xong. Chàng vài lần quay lại xem người mẫu đi lên đồi chưa.  Thực ra không nàng, Dũng cũng có thể tưởng tượng vẽ một bóng hồng trên tranh.  Nhưng có người thật, bức tranh có linh hồn hơn. Khi mặt trời chênh chếch hướng tây, Dũng ăn xong trái táo, tu mấy ngụm nước, vẫn không thấy động tĩnh.  Chàng phấp phỏng nghĩ, không chừng nàng đổi ý. 

            Thế rồi nghe như có tiếng dép di chuyển nhẹ trên mặt đất, xiêm y chạm ngọn cỏ, chim chóc bay vù lên.  Lần này chắc là người con gái ấy. Dũng hồi hộp quay lại.  Ann hiện ra dưới vành mũ rộng.  Quai nơ bay trong gió.  Người họa sĩ nói không suy nghĩ:

            - “Hi”!  Trông cô đẹp hơn hôm qua!

            - Cảm ơn ông quá khen.  Chắc tại tôi trang điểm thêm để đi nhà thờ và đi ăn với ba má tôi.

            - Cô ăn trưa ngon không?

            - Cũng được.  Tôi ăn nhẹ thôi. 

            Ann tiến lại gần bức tranh, khen ngợi thực tình:

            - Trong bức tranh này, nét cọ mạnh hơn, màu sắc rực rỡ hơn bức tranh hôm qua.

            - Tại vì hôm nay tôi đứng gần hoa hơn.  Cô có biết tên những hoa này không?

            - Hoa đỏ là Poppies, xanh là Bachelor’s Buttons, vàng là Coreopsis,  trắng là Daisies.  Ông  biết không, má tôi trồng đấy.  Những thảm hoa cùng màu trong tỉnh cũng do bà đề nghị.  Ông có nhận thấy hoa Poppies giống những chén Florentine thủy tinh, mỏng như giấy bóng đỏ và đáy chén có trái dâu màu tím không?

            Dũng thân mật:

            - Cô tưởng tượng phong phú đấy chứ!  Cô muốn đứng gần những chén Florentine đó để ăn dâu tím không?

            Ann cười bẽn lẽn:

            - Họa sĩ muốn đặt người mẫu ở đâu tôi đứng đó.  Nhưng tôi mặc áo xanh nhạt, ông cho tôi đứng chỗ có nhiều hoa đỏ nhất sẽ làm cho màu hoa càng rực lửa hơn.

            - Đúng vậy.  Cây thông trên đồi ở bên trái, cô đứng vào chỗ nhiều hoa đỏ bên mặt làm cân bằng cho bức tranh.   Áo cô cũng là màu trời nắng sáng đấy.  Để tôi đưa cô tới chỗ đứng.

            Ann đi theo Dũng vào vùng hoa dại:

            -  Ông muốn tôi đội mũ hay cầm tay?

            Dũng ngắm Ann:

            - Tôi muốn thấy bộ tóc dài thẳng của cô nên phiền cô cầm mũ, đứng nắng độ 15 phút là tôi phác họa xong. 

            Cả hai người cùng cố gắng không dẵm lên hoa và đi tới chỗ có nhiều “chén thủy tinh đỏ” nhất.  Dũng thấy hoa Poppies giống như những cặp tình nhân bướm chụm đầu hôn nhau trên những cọng hoa thẳng vươn cao, xanh như vòng ngọc đeo tay của mẹ chàng.  Dũng đạo diễn Ann đứng nghiêng về phía mặt bức tranh và nhìn xuống đồi,  tay mặt cầm thõng mũ cói. Đôi má nàng thêm hồng, làn môi nàng thêm đỏ vì ánh hoa tươi thắm.  Chàng trở lại với tranh, hào hứng vẽ. 

Khi Dũng ra hiệu cho Ann trở lại,  nàng xững xờ nhìn họa phẩm. Ann ước ao có bức tranh ấy, nhưng nàng lại nói khác:

            - Ông đem họa phẩm này ra phòng triển lãm tranh trong tỉnh sẽ bán được ngay tức khắc. 

            Nhìn tới, nhìn lui, vuốt thêm vài nét sơn trên tranh, Dũng mỉm cười:

            - Tôi không định bán tranh.  Vẽ chơi treo trong nhà thôi.  Gia đình tôi đặt hàng tất cả, tôi không đủ cung cấp.  Cảm ơn cô đã phơi nắng làm người mẫu cho tôi.

            -  Tôi hân hạnh được làm điều đó.

            Ann vuốt ve mấy bông Bachelor’s Button màu xanh biếc cài quanh mũ và ngập ngừng:

            - Ông Dũng, tôi muốn hỏi ông một câu hơi riêng tư, nhưng thấy rằng cần thiết... Ông còn mang hoa Bachelor’s Button không?

            Dũng nhìn Ann hiểu ý:

            - Cô cẩn thận thế là phải.  Tôi không mang hoa trên người, nhưng tôi vẫn còn  nhãn hiệu đó. 

            - Vậy, khi nào ông ngừng vẽ hôm nay và không bận chuyện gì khác, xin mời ông xuống nhà tôi ... uống nước cam. 

            - Tôi rất vui mừng được cô mời.  Nhưng xin cô gọi tôi bằng tên, đừng gọi Ông Dũng nữa.

            - OK.  À ... Dũng,... anh định đặt tên bức tranh này thế nào?

            - Tôi nhờ cô đặt giùm.

            Ann nói ngay:

            - Trên Đồi Hoa Dại.

            - A, tên đó hay đấy.

            Nói rồi Dũng lật đằng sau bức tranh lên viết bằng cọ bốn chữ “Trên Đồi Hoa Dại” với ngày tháng rồi ký tên.

            Ann tròn mắt nhìn Dũng:

            - Anh thích tên đó thật hả?

            Dũng gật đầu, thu xếp đồ nghề vẽ nhưng để lại tất cả dưới chân đồi, chỉ đem theo bức tranh theo lời yêu cầu của Ann cho cha mẹ nuôi của nàng xem.

            Trên đường xuống thung lũng, Dũng đi sau ngắm Ann tha thướt, nhẹ nhàng hái những bông hoa dại đủ màu bỏ vào trong mũ.  Nàng giải thích:

            - Để cắm lọ hoa.

            Dũng hóm hỉnh:

            - Tôi có xứng đáng nhận một bông Bachelor’s Button từ tay cô không nhỉ?

            Ann lườm Dũng, nói “OK” và đưa một bông hoa xanh biếc, xinh nhỏ cho chàng:

            - Chúng ta đều mang một thứ hoa.

            Dũng đỡ bông hoa và cài vào khuy áo trước ngực:

            - Cám ơn. Tôi rất vui mừng về điều đó.

            Bước vào vườn nhà Ann, một lần nữa Dũng lại sửng sốt trước cảnh nên thơ.  Cái ao nhỏ nở đầy hoa Waterlilies đỏ, xanh, trắng, cá vàng lượn lờ.  Lối đi vào nhà viền đá chen hoa.  Ngôi nhà gạch đỏ, một tầng xinh xắn, tô điểm tươi tắn với hàng chục chậu hoa treo dưới hiên và bên ngoài các cửa sổ.  Chân tường xung quanh nhà trồng hoa đủ màu.  Trên bàn Picnic dưới bóng cây liễu có chậu lớn hoa Impatient tím nhạt. Dũng nghĩ thầm, sẽ phải trở lại đây nhiều lần vẽ cảnh, vẽ người.

            Chiều hôm ấy, người họa sĩ nói chuyện rất tương đắc với ông bà Smith. Cả hai cùng bập bẹ vài câu tiếng Việt với Dũng. Tuy nhìn bề ngoài người ta hiểu nhau phần nào, họ vẫn điều tra và hài lòng về thân thế Dũng.  Điều làm ông bà Smith mừng hơn cả là nhìn thấy nụ cười nở rộng, ánh mắt sáng láng của cô con gái nuôi họ thương yêu như con ruột. 

            Dũng cảm thấy rất thoải mái tiếp chuyện vợ chồng nhà ngoại giao Hoa Kỳ về hưu này.  Họ phải là người nhân từ lắm mới nhận người con gái Việt Nam làm con và nuôi nấng, dạy bảo nên người.  Dũng xin phép ông bà trở lại vẽ ao hoa súng, liễu rủ thơ mộng mà bà Smith lấy ý kiến từ cái vườn nhà danh họa Claude Monet tại Giverny, vùng Tây-Bắc Paris.

            Vài ngày sau, Dũng vẽ ngôi nhà xinh xắn được trang điểm kiểu Bavarian, miền Đông-Nam nước Đức với hằng trăm bông hoa, và đề tặng chủ nhà. Dũng hiểu rằng chàng không mê vẽ lắm bằng muốn gặp cô con gái nuôi gốc Việt của Ông Bà Smith.

 Ông Bà Hậu hân hoan với những bức tranh Dũng vẽ, đồng thời cũng lo ngại về lai lịch người mẫu của cậu con trai út.  Họ mừng Dũng có bạn gái đồng hương và mong có con dâu Việt Nam, nhưng không phải từ trong trại mồ côi.  Ông bà nhắc nhở Dũng phải cẩn thận, không chừng gặp “thứ dữ” thì tai họa đấy.

             Thông cảm điều lo lắng của cha mẹ, Dũng đưa Ann tới nhà giới thiệu.  Ông bà Hậu ngạc nhiên nhìn thấy sự thông minh, nền nếp ở Ann.  Lần thứ hai, “con bé” đã phụ làm cơm và tập nói tiếng Việt với Ông Bà Hậu.  Dũng trổ tài nói tiếng mẹ đẻ mà trước khi gặp Ann chàng rất lười nói.  Ann lễ phép, ngoan ngoãn chẳng khác gì con nhà gia giáo.  Đó là công dạy dỗ của cha mẹ nuôi nàng. 

            Bà Hậu nhìn những bông hoa dại cắm bình pha lê trong suốt, mà ông bà Smith bảo Ann đem tới tặng, và nói với ông:    

            - Hoa làm bình thêm đẹp.  Bình cũng làm hoa đẹp thêm. 

            Ông Hậu gật gù:

            - Chuyện con bé mồ côi và cha mẹ nuôi cũng đẹp như vậy.

            - Tội nghiệp con bé Ann chẳng có họ hàng gì ở xứ người, ở bên quê nhà. 

            - Mà có cũng làm sao biết được. Thằng Dũng có vẻ muốn cho con Ann thêm một gia đình Việt Nam đấy. 

            - Con bé thật dễ thương! 

            Ông bà Hậu vừa nói chuyện vừa nhìn theo Dũng và Ann dắt nhau đi lên đồi.

 Hoàng hôn rạo rực in bóng người nam, người nữ ngồi tựa vai nhau trên đỉnh đồi.  Mặt trời đỏ như mâm son xuống thấp dần, từ từ lặn sau rặng cây tím ngắt in trên nền mây hồng cuối chân trời.  Nhà An êm đềm ấm cúng dưới thung lũng. Dũng muốn gọi nàng là An như tên Việt Nam của nàng.  Chàng vòng tay qua người An, ôm sát nàng vào phiến ngực cường tráng, nóng bỏng trái tim.  Họ cảm thấy ấm áp thân thể, hương tóc người yêu trong gió chiều nhẹ đưa mùi hoa thơm đồi cỏ. º

NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG

 

Last Updated on Thursday, 16 May 2013 08:00
 

Sổ Vàng

An-Lộc Foundation