Font Size

Profile

Menu Style

Cpanel
Bức Tranh Thêu Bản Đồ Nước Mỹ của Nguyên Nhung PDF Print E-mail
Written by Editor   
Wednesday, 07 November 2012 19:15

Bức Tranh Thêu Bản Đồ Nước Mỹ: Quần Đảo Hạ Uy Di.

* Tạp ghi của NGUYÊN NHUNG

Đêm qua tự nhiên tôi lại nhớ đến bức tranh thêu bản đồ nước Mỹ của bà Laura, thêu tượng trưng vài vòng tròn nhỏ, rải rác ngoài khơi Thái Bình Dương là quần đảo Hạ Uy Di, nằm gần nhau theo chiều ngang như xếp hàng trong mênh mông của đại dương.

 Tôi mới từ Hạ Uy Di về, trong đầu vẫn còn âm vang tiếng sóng vỗ bờ rào rạt suốt đêm khuya, một buổi tối lang thang ra ngắm biển đêm. Bập bùng những ngọn đuốc dọc theo bờ biển, như ánh lửa của người thổ dân Hawaiian và tiếng nhạc tiếng trống rền rĩ trong khung cảnh núi rừng hoang dã.

 Phải vượt qua 3 chuyến bay và chờ đợi ở các phi trường nên đã mất hết một ngày trôi nổi với mây trời, phi cơ nghiêng cánh trên vùng biển đêm để đáp xuống phi trường Honolulu, ánh sáng từ bao nhiêu con tàu đậu trên biển cho tới ánh đèn của thành phố Waikiki lấp lánh như một viên kim cương khổng lồ. Hạ Uy Di thao thức và sống động gần như suốt đêm, khách du lịch vẫn tản bộ thật thong dong, dòng xe trong lòng đường vẫn không ngủ.

Phi trường Honolulu nằm trên hòn đảo O’ahu, một trong 19 hòn đảo lớn nhỏ nằm rải rác trên Thái Bình Dương, thủ đô của Hawaii là Honolulu cách lục địa khoảng 2300 dặm, là tiểu bang thứ 50 của Hoa Kỳ được công nhận ngày 21 tháng 8 năm 1959. Đây cũng là tiểu bang có nhiều sắc dân gốc Á nhất Hoa Kỳ, với khí hậu nhiệt đới và ẩm ướt, nắng mưa bất chợt như tuổi dậy thì của thiếu nữ đang yêu, khiến người xa đến đây cứ ngỡ là một thành phố thuộc Châu Á, nhưng thực ra nó không thuộc về châu lục nào.

Những hòn đảo tượng trưng bé bằng hột đậu xanh trong bức tranh thêu bản đồ nước Mỹ của bà Laura, thật ra được hình thành từ núi lửa Kilauea, chưa kể còn có đảo san hô mà chắc không có người sinh sống. Ngoài hai hòn đảo lớn như Oahu và Hawaii thì những đảo khác như Niihau, Kauaii, Molokai, Lanaii, Mauii đều nhỏ nhưng vẫn có người sinh sống, môi trường do núi lửa xói mòn nên hình thể rất đẹp, núi non, cây cối chen nhau mọc trên các triền đồi chênh vênh, ven đường giây leo và những bụi hoa giấy đủ màu, những cây hoa sứ màu vàng sữa hay trắng muốt phả mùi hương phảng phất trong nắng gió, mênh mang lẫn vào cái buồn của núi đồi hoang dại.

Chuyến đi này lại một lần nữa tôi theo chân đoàn Biên Hòa Hoa Bưởi vượt Thái Bình Dương, để nhớ lại cách đây vài năm tôi cũng được tháp tùng trong chuyến Hoa Bưởi Vượt Đại Dương thăm các nước Âu Châu. Chuyến nào cũng vui và gắn bó tình đồng hương thân thiết, tôi càng cảm nhận ra cái tình đoàn kết, thương yêu rất cần thiết cho một chuyến đi dài. Nếu may mắn đi chơi xa có vợ chồng, con cái đi theo thì đã lấy làm quý lắm, nhưng những ai lẻ loi nếu đi chung với đoàn Hoa Bưởi, chắc chắn sau chuyến đi trở lại nhà cảm giác cô đơn sẽ không còn, vì sự chân tình của mọi người đối với nhau sẽ làm ấm bao nhiêu con tim mang mối sầu cô quạnh.

Đoàn Hoa Bưởi đến Hawaii chưa đầy 30 người, quá rộng cho chuyến “school bus” chở học sinh , vào mùa hè chở thuê cho du khách đi thành nhóm đông người để lấy thêm lợi tức cho trường học. Thế cũng tiện, với một giá cả tương đối nên việc chia nhau tiền chuyên chở cho một chuyến xe rất nhẹ túi cho du khách, mà lại được thăm nhiều nơi trong một ngày dài, ngừng lại bên đường để nhìn bao quát cảnh đẹp của Hawaii trong một sáng còn mù sương.

Tuyệt vời nhất là phương tiện giao thông ở Hawaii, ngoài xe taxi thì xe bus, “trolley” đan nhau nườm nượp đón khách từ trạm để tỏa đi khắp nơi, nên ai cũng có thể yên tâm đi đến nơi về đến chốn. Ngay tại các khách sạn cũng giới thiệu cho du khách liên lạc với các chuyến Tours đi thăm các địa điểm du lịch rất nhiều, khỏi mất công loay hoay tìm kiếm.

Riêng tôi, thú nhất vẫn là được làm khách bộ hành, lang thang trên các con phố lúc nào cũng sạch bóng và đông người qua lại. Người lái xe ở đây rất lịch sự, rất từ từ và ưu tiên cho khách bộ hành cứ thong thả băng qua đường, đi dưới những hàng cây rì rào vì từ đây ra biển chỉ đi bộ khoảng 15 phút. Trước khách sạn là “International Market”, gọi nôm na là khu chợ Trời bán trái cây họp chợ vào những ngày thứ Năm trong tuần, và hình như bán đủ thứ từ thức ăn cho đến quần áo vào mỗi ngày, nếu ngại đi xa lên phố Tàu để kiếm một quán phở Tàu nhiều thịt và bánh, nhưng sặc mùi quế mùi hồi thì ôi thôi không nuốt được. Thôi hãy vào đây ăn uống với một giá phải chăng, món ăn cũng đa dạng nhiều khẩu vị của mọi quốc gia.

Vào một gian hàng bán thức ăn, nói vài câu tiếng Anh thông dụng để “order” món ăn, chủ và khách mới cười xòa nhận ra nhau là người Việt, và thế là đĩa cơm trắng có cá chiên hôm ấy không quên xin thêm chén nước mắm pha chua ngọt, đặc biệt chỉ xứ mình mới có loại nước chấm pha chế tuyệt vời như thế! Buổi tối nơi khu chợ trời bán các áo hoa sặc sỡ cho du khách đến Hawaii, những chiếc xà rông hoa thật đẹp mà giá thì quá rẻ, quần áo trẻ em và các đồ lưu niệm, tôi gặp một lúc vài gian hàng của người Việt. Các em tương đối trẻ, thế hệ thứ hai của những gia đình Việt Nam ở đây, không ở tuổi còn cắp sách mà là bương chải ra chợ đời để kiếm sống, nghe nói miền này sống dựa vào du lịch, không hãng xưởng sản xuất hay rất ít nên không có việc làm, đa số nhảy ra buôn bán, lợi tức thu hoạch nhờ khách du lịch. Những năm về trước nghề chạy “Taxi” còn khá, sau này phương tiện giao thông của chính phủ dồi dào và tiện lợi nên cũng xuống dốc, ảnh hưởng kinh tế toàn cầu người đi du lịch cũng gói ghém tính toán hơn xưa nên đời sống ở đây cũng khá vất vả. Đám trẻ hơn, đang tuổi đi học thì thường muốn bay về đất liền để thăng tiến và tìm việc làm dễ hơn, Hawaii nhờ khí hậu trong lành nên rất tốt cho trẻ con và người già thường có tuổi thọ cao. Về mặt an ninh thì ở đây con số tội phạm ít ỏi, chính là vì bốn bề biển bao quanh, các tay anh chị khó thoát lưới pháp luật, khi di chuyển từ đảo này sang đảo kia đều phải dùng phi cơ hay tàu.

 Bình minh Hawaii:

Trời chưa sáng hẳn, từ phía siêu thị nằm phía sau khách sạn đã nghe tiếng chuyển động của các xe chở hàng, sáng hơn một chút thấp thoáng vài chiếc “bus” đến đón khách du lịch bắt đầu một ngày ở quần đảo Hạ Uy Di. Trước tiên phải đi thăm một vòng đảo cho biết, tùy theo yêu cầu của “tour guide” để đến một nơi nào đó, chúng tôi dừng lại ở một triền núi thấp nhìn ra thung lũng và núi rừng Hawaii còn mơ ngủ trong màn sương, đỉnh núi xa vẫn mờ mờ trong sương mịt mù như dưới một cơn mưa phùn thật nhẹ. Ngất ngây vì vẻ đẹp của núi rừng còn ngái ngủ, mọi người dừng lại ghi vội vài tấm hình hay khúc phim làm kỷ niệm. Ở Pali Look Out nhiều gió nên đứng một lúc là đã thấy lạnh người, nhìn xuống thung lũng cứ tưởng như bị cuốn theo chiều gió. Xa xa thấp thoáng một ngọn núi mờ nhạt mà người ta gọi là Chinese Hat, vì nó rất giống cái mũ của người Trung Hoa.

Chùa Nhật Bản ở Hawaii:

Tiếp tục cuộc hành trình, xe đưa du khách đến thăm một ngôi chùa Nhật kiến trúc rất đẹp, bên cạnh chùa thoai thoải một ngọn đồi thấp là nghĩa trang bia mộ tuyền một màu đen. Có tiếng chuông thả từng giọt buồn vào không gian im vắng, nhẹ như hạt sương trong trẻo rơi vào tâm hồn của khách lãng du. Còn trong khuôn viên của chùa bao quanh bằng vườn thông, tre trúc, du khách thoáng thấy một đài tưởng niệm dành riêng cho những người lính cả hai bên Nhật và Hoa Kỳ đã nằm xuống trong trận đánh Trân Châu Cảng năm xưa, kết quả là hai quả bom nguyên tử thả xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật , kết thúc thế chiến thứ II năm 1945.

Trung Tâm Đa Văn Hoá Polynesian:

Trời lại xầm mặt xuống với một cơn mưa nhỏ, xe chạy vòng quanh ngọn đồi để du khách nhìn bao quát một lần nữa khu nghĩa trang màu đen lặng lẽ đến nao lòng người. Xe chuyển bánh về hướng Bắc của đảo Oahu, đến trung tâm đa văn hoá Polynesian, được gọi là Polynesian Cultural Center . Sở dĩ nó mang tên này vì đây là một khu giải trí lành mạnh, những màn trình diễn hay cách kiến trúc đều mang tính cách văn hoá của quần đảo Thái Bình Dương.

Bước vào cổng, nếu thích bạn có thể mua một vòng hoa tượng trưng cho vùng biển xanh, một thiếu nữ xinh đẹp nước da nâu hồng sẽ choàng vòng hoa lên cổ bạn. Nhưng nếu cần phải tiết kiệm bạn đừng mua vòng hoa do các thiếu nữ thổ dân choàng lên cổ nhé, vì giá của nó đắt gấp mười lần mua ở ngoài phố, chuyến đi của bạn còn nhiều thứ phải tiêu đấy. Quá bước vào trong một chút là mọi người có thể tham gia vào những Shows hoàn toàn không phải trả tiền (ai cũng phải mua cái vé vào cửa khoảng 85 mỹ kim rồi mà!). Thôi thì vào xem một thanh niên thổ dân đang biểu diễn màn vắt nước cốt dừa với hai bàn tay rất khỏe mạnh của anh ta, sau đó một chàng thổ dân leo lên cây dừa cao nghệu để hái dừa, và còn đòi nhảy xuống biểu diễn cho mọi người xem. Khách du lịch hồi hộp sau mấy phút chờ đợi, nhưng người biểu diễn chỉ khoái chí hét lên “Are you crazy?” thế là ai cũng phải té ra cười nghiêng ngả, đời nào anh ta lại muốn gãy xương cho phí một đời trai!

Những thân dừa ở đây cũng rất ngộ, nhiều cây chắc ảnh hưởng của gió lại cong vòng xoắn chứ không nghiêng bóng dịu dàng như bóng dừa ở quê mình. Chưa hết đâu, cảnh chèo thuyền trên sông với mái chèo vừa vặn trong tầm tay, để mặc cho con thuyền trôi xuôi theo dòng nước. Cảm giác được trở về dòng sông quê nhà như sống dậy, già trẻ lớn bé đều có thể nhập cuộc chơi thỏa thích mà không phải trả một xu teng nào. Hoặc du khách có thể ngồi phây phả trên đò để ngắm cảnh hai bên bờ, đò từ từ đi qua những bến nước có bóng dừa và các loại hoa miền nhiệt đới, ngay cả những loại cổ thụ thì cây cũng chi chít đơm hoa.

Đò cập bến rồi phải lên thôi, hay muốn đi thêm một chuyến nữa thì lại xếp hàng đợi chuyến kế tiếp. Nắng hình như gay gắt hơn, mọi người nghỉ chân trên bờ kinh uống nước chờ màn biểu diễn múa bụng (hula hup) của các sắc dân sống trong quần đảo Hawaii: Samoa, Maori, Tonga, Eater Island, Tahiti … Đây có lẽ là màn trình diễn hấp dẫn nhất trong các lễ hội của thổ dân, những chàng trai lực lưỡng cuồn cuộn bắp thịt, những thiếu nữ da nâu hồng xinh đẹp trong chiếc váy nhiều màu sặc sỡ, khi lắc lư gào rú như thác đổ, lúc êm nhẹ như suối reo trong rừng vắng. Nhạc lan lan trên sông và tiếng trống bùm bùm từng hồi hòa theo tiếng chân giậm thình thịch trên chiếc thuyền hoa khiến ai cũng thấy bừng bừng sức sống.

Mọi người tản mát đi tìm trò chơi mới, thăm các căn nhà xưa của các bộ tộc để biết cách sống của những tộc trưởng ra sao, và khi xem xong rồi nếu cảm thấy thích thì hãy cùng một thiếu nữ người Tahiti nhảy muá điệu Hula trong tiếng trống dập dồn. Với trò chơi vui vẻ này làm tôi lại nhớ đến những đêm đốt lửa trại thời đi học, rồi cùng nhau hát những bản nhạc có âm hưởng núi rừng cao nguyên, tay nắm tay nhau chạy quanh đống lửa, lòng phơi phới yêu đời và yêu người, bây giờ làm gì còn những phút vui hồn nhiên như thế!

Vẫn còn dư thời gian thì đây đã có một chiếc xe “bus” chờ sẵn chở bạn chạy ra khỏi khu Văn Hóa. Tưởng sao, xe chạy vào thánh địa của nhà thờ Mormon, và sau khi viếng nhà thờ còn được xem một đoạn phim ngắn, kể chuyện về thời kỳ đầu tiên của những nhà truyền giáo Mormon đến hòn đảo này, họ đã ra sức khai phá miền đất mới lúc đó còn hoang vu, đồng thời cũng khai tâm cho người thổ dân để có một đời sống văn minh hơn. Do đó sau này thổ ngữ chỉ còn tên trên những con đường, còn hầu hết mọi người đều nói tiếng Anh, và bớt dần đi những hủ tục tế thần có tính cách man rợ. Bữa tiệc tối được khoản đãi, tôi đã ngờ ngợ nhận ra rằng đây là một trung tâm Văn Hoá của giáo hội Mormon, vì món thức uống trái cây đặc biệt của địa phương đựng trong trái dứa được khoét ruột, lại thiếu mùi rượu dứa như ở các quán nước ngoài phố. Sau mới biết là Trung Tâm Polynesia của giáo hội Mormon, được hình thành là để gây quỹ làm học bổng giúp cho những học sinh bản xứ có phương tiện học hành, hy vọng họ quay về xây dựng và nâng cao đời sống các cộng đồng của người thổ dân tại Hawaii. Thật là một nghĩa cử văn hoá rất đáng trân trọng.

Trời đã về chiều, cuộc vui chưa tàn vì với cái vé vào cửa bạn sẽ còn được thưởng thức một màn trình diễn tuyệt vời trên một sân khấu lộ thiên rất hùng vĩ. Hùng vĩ vì có thác đổ lẫn trong tiếng thông reo, những ngọn đèn bài trí rất nghệ thuật và cũng vì ánh trăng đêm ấy toả ánh sáng huyền ảo xuống rừng khuya hoang dã. Tất cả các máy chụp hình và quay phim bị cấm không được chụp hay thu màn trình diễn đặc biệt của họ, các thanh niên thiếu nữ diễn lại sự tích lịch sử của một người thổ dân từ lúc chào đời cho đến ngày cuối cùng của anh ta, được sinh ra trên mảnh đất hoang vu do núi lửa tạo thành. Cũng khởi đầu và kết cuộc như bao câu chuyện khác, cũng lúc bình yên và cũng có chiến tranh giữa bộ tộc này với bộ tộc khác, họ phải chiến đấu để sinh tồn trên mảnh đất mà ngày nay chúng ta gọi là Hawaii, hòn đảo thần tiên. Cuối cùng là một màn múa lửa vô cùng ngoạn mục mà hình như chưa từng được xem trên bất cứ sân khấu nào, đó cũng nhờ vẻ hoang dã của núi rừng thiên nhiên tạo thành một bức phông tuyệt tác.

Thế là hết một ngày ở Hawaii, xe đã tới đón mọi người về khách sạn. Ai cũng thấm mệt nhưng hài lòng với chuyến đi khám phá được nhiều cái hay cái lạ, ở một hòn đảo xa xôi mà ngày xưa mỗi lần nghe nói lại chỉ nghĩ là truyện cổ tích.

Đêm đã khuya, từ tầng trên của khách sạn nhìn ra phong cảnh bên ngoài, Hạ Uy Di vẫn nhấp nháy ánh đèn như một thảm kim cương diễm lệ.

Nguyên Nhung

(Summer in Hawaii, 2012)

 

Bức Tranh Thêu Bản Đồ Nước Mỹ: Người lính Mỹ ở Trân Châu Cảng

(phần 4)

Đáng lẽ tôi định viết tiếp về hòn đảo lớn nhất (Big Island) trong quần đảo Hạ Uy Di nằm ở Thái Bình Dương như đã hẹn với bạn, nhưng thôi để lần sau vì chỉ còn mấy hôm nữa là ngày lễ Độc Lập của Hoa Kỳ, đất nước mà tôi yêu mến bởi đã mở cánh cửa cơ hội cho gia đình tôi có được như ngày hôm nay.

Khi đến Honolulu, điều tôi muốn đến trước tiên vẫn là căn cứ Trân Châu Cảng mà tôi đã được xem bộ phim này vào thập niên 70, cuốn phim chiến tranh có sức hút mãnh liệt vì lúc đó đất nước tôi cũng đang có chiến tranh. Thuở ấy mỗi ngày trên báo chí và đài truyền hình, tôi đã đọc, đã nhìn thấy hình ảnh thảm khốc của chiến tranh từ cầu Bến Hải cho tới mũi Cà Mau, nhiều đêm tôi bất chợt bị đánh thức bởi những quả đại bác dội vào thành phố, ầm ầm xoáy xuống nơi nào đó mà gia đình tôi đang trú ngụ.

Tôi không thích chiến tranh là vậy, nói theo luật Nhân Quả của nhà Phật, chắc chắn quả báo sẽ đến với kẻ gây hấn, trong tiền kiếp đến hiện tại, thế nào cũng có lúc lãnh nhận cái quả này. Tuy vậy, tôi lại thương người lính, nhất là những người lính xa nhà, nơi chiến trường tanh tưởi mùi máu và bom đạn. Qua hình ảnh những người lính Mỹ nơi hải đảo xa xôi mà tôi đã nhìn thấy ở Trân Châu Cảng, trong một buổi chiều chiến hạm ghé vào bờ. Vẻ rắn rỏi với nước da đồng nâu trong bộ chinh y màu sa mạc của người lính Hoa Kỳ khiến tôi nao lòng. Cảnh thì đẹp như vậy, trời vẫn xanh và biển vẫn xanh, họ sẽ đi đâu, đến đâu trong suốt cuộc hành trình đời Lính?

Ngày hôm trước, đoàn du lịch đã được thông báo ngày mai đến thăm Trân Châu Cảng, tiếng Anh gọi là Pearl Harbor, hải cảng thuộc đảo O’ahu, một trong những hòn đảo thuộc quần đảo Hawaii. Trân Châu Cảng nằm ở phía Tây của thành phố Honolulu, vùng quân sự nước sâu và đây là trung tâm chỉ huy của hạm đội Thái Bình Dương. Nơi này đã diễn ra cuộc chiến nổi tiếng giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản, ngày 7 tháng 12 năm 1941, trận chiến này khởi đầu cho việc Mỹ tham gia vào đệ nhị thế chiến.

Đi thăm Trân Châu Cảng là một ước mơ của tôi, bộ phim này của hai nhà đạo diễn là Micheal Bay và Bruckheimer năm 1970, và ngay tức khắc nó đã bay xa đến các nơi trên thế giới. Mãi tới năm 1973 tôi mới được xem, cảm tưởng trái tim mình đã se thắt lại khi nhìn thấy trong phim một buổi sáng tinh sương tháng 12 năm 1941, hình ảnh của những người lính trẻ Hoa Kỳ đang tuổi thanh xuân như còn nặng trĩu trong trí nhớ của tôi, nước mắt như đọng lại trên viền mi cho tới đoạn cuối cùng của bộ phim chiến tranh.

Trong một bộ phim khác về chiến tranh, người lính già sau khi giã từ vũ khí, nhìn lại những hình ảnh tan nát, đổ vỡ đã nói một câu để đời: “Khi cuộc chiến kết thúc, người trẻ thì chết còn người già thì nói”. Vâng, người lính già của bất cứ cuộc chiến nào cũng đang hoài niệm từng trận đánh sinh tử, tiếng đạn réo bom rơi, sự ra đi của đồng đội thì có lẽ Trân Châu Cảng ngày nay cũng là nơi để người dân Mỹ tưởng nhớ lại trận đánh tồi tệ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.

Sáng hôm đó mọi người đều dậy sớm, lục tục kéo xuống “lobby” của khách sạn uống cà phê và lên đường. Nhân đây tôi sẽ nói về loại cà phê Kona nổi tiếng của Hawaii mà dân địa phương rất hãnh diện về sản phẩm này, tôi không sành cà phê nhưng chắc chắn đây là loại cà phê nguyên chất không pha chế nhăng nhít. Khi viết về Big Island, tôi sẽ đề cập đến buổi ghé vào đồn điền Kona Joe Coffee, nhìn tận mắt những cánh đồng trồng cà phê và cách hoạt động của một nhà máy cà phê như thế nào.

Muốn tránh cảnh xếp hàng chờ đợi khi vào Trân Châu Cảng, du khách phải đến sớm để kịp chuyến xe chở khách đi quanh một vòng hải cảng, mỗi chuyến độ 2 giờ đồng hồ. Nhìn cảnh hôm nay khó ai hình dung nổi nơi đây ngày xưa chie6’n tranh đã bất thình lình diễn ra khi hằng trăm máy bay Nhật, với các viên phi công Thần Phong ào ạt tấn công vào các chiến hạm của Hoa Kỳ ở Trân Châu Cảng.

Đây là phần mở rộng của vịnh nước cạn được gọi là WAI MOMI, tiếng địa phương là Pu’uloa, có rất nhiều ngọc trai thiên nhiên. Hiện nay tại các cửa hàng chuyên bán Gift Shop đều có một chiếc chậu nhỏ, đựng những con trai còn sống với giá 15 mỹ kim, và họ bảo rằng mỗi con đều có chứa 1 hay 2 viên ngọc, nếu du khách nào may mắn sẽ có được những viên ngọc trai với một giá rẻ mạt làm thành trang sức.

Và đây, một người lính Mỹ là nhân viên an ninh đứng chặn ngoài cửa để kiểm soát giấy tờ tùy thân của du khách. Từ chỗ này vào bờ vịnh không xa, thấp thoáng những chiến hạm ở thập niên 40 rải rác đó đây, có một bến tàu mà cách đây khoảng 70 năm về trước đã ngổn ngang, hoảng loạn, hãi hùng của các chiến hạm Mỹ khi bị Nhật tấn công bất ngờ. Cuộn phim “Tora, Tora, Tora” năm xưa như hiện ra trước mắt tôi, vẻ hồn nhiên của những người lính Mỹ buổi mai hôm ấy bên ly cà phê còn bốc khói, bỗng chốc tiếng còi báo động hú lên từng hồi và những chiếc máy bay của Nhật từ trên không lao xuống, những trái bom phà lên ánh lửa, những cột khói bốc lên trời, chết chóc, thương vong, như một cơn ác mộng đến với những người thủy thủ Hoa Kỳ ngoài hải đảo xa xôi, tích tắc đã chỉ còn là hoang tàn đổ nát…

Một chút bùi ngùi khi du khách nhìn thấy những đài tưởng niệm nhỏ hình khối thẳng đứng dọc theo ven bờ, trên mặt có khắc những hàng chữ kỷ niệm ghi từng chiến hạm đã bị đánh chìm và tên tuổi của các quân nhân đã tử trận theo con tàu nằm rải rác trong vùng Thái Bình Dương. Bao nhiêu trụ là bấy nhiêu chiến hạm lớn nhỏ đã bị đánh đắm hoặc tan tành với mưa bom, đối diện bên kia bờ là một Đài Kỷ Niệm sơn trắng một màu tang tóc, ngày xưa là chiến hạm Arizona đã bị đắm và nằm im dưới lặng dưới đáy nước, mang theo 1102 sinh mạng của người lính Hoa Kỳ, số thương vong cao nhất trong các chiến hạm của Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương thời đó.

Gío biển thổi lá cờ nước Mỹ bay phần phật trên bầu trời xanh lơ, nước vẫn êm đềm vỗ sóng vào ven bờ, như tiếng kinh cầu trầm buồn của biển khơi ròng rã bao năm tháng cho bao nhiêu sinh linh đã bỏ mình vì đất nước:

 “Những hồn năm cũ, người năm cũ

Như còn ẩn hiện cả nơi này

Biển vẫn âm vang lời tưởng nhớ

Lờ lững quanh trời mây trắng bay”

Du khách có thể ghi lại vài tấm hình với cái mỏ neo sơn màu xám nhạt, nếu nhìn sơ lại rất giống hai con chim bồ câu chụm vào nhau trong một tư thế hoà bình. Chao ơi! Thế giới vẫn luẩn quẩn trong cái vòng nghiệt ngã của chiến tranh và hòa bình, tôi và chị Oanh, bà chị kết nghĩa nhóm thơ thẩn Hoa Bưởi chụp chung vài tấm hình kỷ niệm, phía sau có chiến hạm 287.

Bỗng dưng tôi nhớ lại ở Corpus Christi thuộc tiểu bang Texas, hiện đang trưng bày chiến hạm Lexington tượng trưng cho Viện Bảo Tàng chiến tranh mà tôi đã một lần ghé thăm, nghe nói cũng đã cùng nhiều chiếc mang tên Lexington chiến đấu với phi cơ Nhật dài dài ngoài khơi Thái Bình Dương, ngay sau khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng và Mỹ đã bắt đầu phục hồi lại lực lượng hải quân của họ. Cuối cùng thì chiến tranh đã kết thúc, hai trái bom nguyên tử thả xuống 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki khiến nước Nhật phải tuyên bố đầu hàng, kết thúc đệ nhị thế chiến.

Trong lúc mọi người tản mát vào các phòng trưng bày các loại vũ khí chiến tranh, quả thật nước Nhật hồi ấy đã có những vũ khí tối tân, và điều kinh khủng hơn nữa là có những quân nhân cảm tử dám liều chết khi điều khiển một quả ngư lôi chứa khoảng 3000 “pounds” thuốc nổ để lao vào phá huỷ tàu Mỹ ở dưới nước. Trong khi đó các hạm đội của Mỹ hình như ở tư thế không chống trả được vì họ vẫn còn đứng ngoài vòng cuộc chiến.

Nhìn những thứ vũ khí giết người ghê gớm ấy, tôi lại nhớ đến câu chuyện mẹ tôi kể cho các con nghe về năm 1945, lúc ấy tôi chưa sinh ra, dân Việt Nam mình đã chết như rạ trong trận đói năm Ất Dậu vì lúa bị đốt để trồng đay. Gia đình tôi ở thị xã đời sống tương đối còn khá nên mỗi buổi sáng, cha tôi bảo mẹ tôi nấu mấy nồi cháo đặt trước cửa để bố thí cho người nghèo đi xin ăn. Khi thấy tình hình quá bi đát, ông về nơi chôn nhau cắt rốn tìm người làng xem ra sao. Tới cổng làng ông chợt nhìn thấy một đứa bé chưa đầy năm đang úp mặt trên đôi vú khô queo của người mẹ đã chết tự bao giờ. Ông bế đứa bé về giao cho các bà phước nuôi nấng, còn gọi người làng ra để tạm chôn cất cho người phụ nữ xấu số xuống nấm đất nông, vì chị ta từ một làng khác bồng con định đến xin ăn ở làng này vì đói quá. Bây giờ có được cuộc sống no đủ như ngày hôm nay, tôi cứ nghĩ mình đã được hưởng cái phúc đức của cha tôi ngày trước, ông cũng đã nằm lại mảnh đất quê nhà năm 1954, trước ngày phân ly đất nước.

Trời đã đứng bóng, Trân Châu Cảng vẫn kẻ đến người đi, những chiến hạm lặng lẽ nằm phơi mình trên sóng nước đại dương. Trên cao là những giải mây trắng lững lờ bay in bóng lên nền trời xanh lơ, bao nhiêu dâu bể cuộc đời, những núi biếc non xanh, những con tàu trầm mặc in hình xuống làn nước biếc, có bao giờ thổn thức vì nơi này ngày xưa biết bao người đã nằm xuống?

Chúng tôi còn đi qua khu vực trại gia binh của lính Mỹ, người địa phương cũng gọi thành phố này là thành phố lính vì lính đã chiếm khoảng phân nửa dân số sống tại đảo O’ahu. Gần trại lính có một trung tâm mua bán có nhiều quán ăn của Nhật, Đại Hàn, Trung Hoa. Chúng tôi ngồi gần bàn ăn của vài người quân nhân, công nhận quán nấu ăn khá mà lại rẻ, một tô mì phải hai người ăn mới hết, thật hợp với sức ăn của Lính.

Thôi hãy để những đau buồn đó nằm im lặng trong nấm mồ lịch sử của nước Mỹ, chúng tôi rời Trân Châu Cảng và đi thăm địa điểm sản xuất dứa mang tên Dole của Honolulu. Những trái dứa ở đây rất to, óng vàng mà ngọt lịm, y hệt dứa Bến Lức ở quê mình, giá khá đắt so với các loại dứa trồng các nơi khác trên nước Mỹ, nhưng “đáng đồng tiền bát gạo”.

Từ trang trại và nhà máy, ngó qua bên kia đường để rồi ai cũng ngạc nhiên khi phát hiện ra một hàng cây phượng vĩ, rưng rưng đỏ thắm trên một bức phông trùng trùng mây và núi. Có ai đó bật ra tiếng hát bài “Nỗi Buồn Hoa Phượng” của nhạc sĩ Thanh Sơn:

“Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn!”

Chao ơi là nhớ, ở cái tuổi đầu đã bạc mà vẫn chưa quên được màu hoa của tuổi học trò. Hoa phượng ở Hawaii nhiều lắm, trồng dọc theo đường đi nhưng chưa chỗ nào mọc thành hàng như ở đây. Ai cũng vội vã băng qua đường ghi lại những tấm hình với hàng phượng vĩ, như níu thời gian lại mà quay về tuổi học trò đã xa tít mù khơi…

Nguyên Nhung

 

 

 

Sổ Vàng

An-Lộc Foundation