Font Size

Profile

Menu Style

Cpanel
Quốc Nam một lần gặp 2 nhân vật văn hóa lớn PDF Print E-mail
Written by Editor   
Wednesday, 02 May 2012 18:50

Tôi gặp được 2 tên tuổi văn hóa lớn chỉ một lần trong đời: Văn thi sĩ Hà Bỉnh Trung và Học giả Vũ Ký.

Nhận được tin buồn từ Bình luận gia Phạm Trần báo cho biết văn thi sĩ Hà Bình Trung đã tạ thế ngày 24 tháng tư năm 2012 tại Virginia, thọ 91 tuổi. Tôi bàng hoàng như vừa mất đi một người thân thiết nhất đời.

Trong quãng đời cầm bút mưu sinh hơn nửa thế kỷ của tôi, có 2 tên tuổi lớn cùng chào đời năm 1922 mà tôi chỉ gặp một lần trong đời. Thế mà cả hai vị này đã cùng đánh giá cao sự nghiệp cầm bút của tôi. Đó là cố học giả, nhà văn, giáo sư Vũ Ký (1922-2008) và cố văn thi sĩ Hà Bỉnh Trung (1922-2012). Nhị vị đều là nhân vật văn hóa mà tôi ngưỡng mộ từ lâu, nhưng chưa có dịp quen biết thân tình. Họ không thuộc loại tác giả hợm mình, trong phe đảng "áo thụng vái nhau" trước năm 1975 ở đô thành Saigon.

Cố học gỉa Vũ Ký là một nhà cách mạng chống Cộng quyết liệt, và là người cầm bút VN đầu tiên được đề nghị dư tranh Giải Nobel Văn Chương. Ông từng là Giáo Sư Trung Học tại Hà Nội từ năm 1946. Trong bài tiểu luận khá dài, ông gọi tôi là "Nhà Văn Hóa Việt Nam nổi bật của thời đại ly hương".

Cố văn thi sĩ Hà Bỉnh Trung đã xuất bản 35 tác phẩm, gồm: 5 truyện dài, 5 tập truyện ngắn, 10 thi tập, 1 kịch thơ, 1 tập thơ Anh Ngữ, 3 tập thơ dịch, 10 quyển sách nhiều thể loại khác nhau. Tác phẩm đầu tay của ông là truyện dài "Răng Đen Ai Nhuộm Cho Mình" xuất bản tại Hà Nội năm 1952.

Ngày 7 tháng 6 năm 2003, tại Đại Học Luật Khoa George Mason (Virginia) tôi và nữ văn sĩ Phong Thu đã cùng nhau giới thiệu tác phẩm với người yêu văn chương vùng Thủ Đô Hoa Kỳ. Cố văn thi sĩ Hà Bỉnh Trung là 1 trong 6 nhân vật lên sân khấu nói về Tác Phẩm & Tác Giả Quốc Nam. Tôi hân hạnh gặp mặt ông lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong đời.

Hôm đó, cố văn thi sĩ Hà Bỉnh Trung đã phát biểu nguyên văn như sau:

“Quốc Nam và tôi cùng là cựu Sĩ Quan Quân Lực VNCH. Do tình “huynh đệ chi binh”, và cũng vì duyên văn nghệ, chúng tôi đã nhận lời nói đôi lời về thơ của Quốc Nam.
Quý vị chắc hẳn đều đã thừa biết, nói về thơ của bạn mình để bình luận thì thật khó! Khen thì mang tiếng mặc áo thụng vái nhau, mà không khen thì cũng thấy thiếu sót.
Nhưng thật may, đối với Quốc Nam, tôi kiểm điểm lại đã thấy sau nhiều lần tái bản hai tập thơ “Quê Hương Nước Mắt” và “Người Tình Quê Hương” có tất cả 46 người đọc thơ lên tiếng khen ngợi, gồm đủ mọi giới:
2 vị cao tăng Phật Giáo (Hòa Thượng), 3 Linh mục, 1 Mục sư, 2 Tiến sĩ, 2 Bác sĩ , 1 Nghệ sĩ, 1 Nhà cách mạng, 1 thuyền nhân, 2 Chủ tịch Hội đoàn, 1 cựu Thượng nghị sĩ, 2 cựu Dân Biểu, 1 Nhà xuất bản sách, và 24 nhà văn, nhà thơ tên tuổi.
Tất cả đều nhìn nhận Quốc Nam là một chiến sĩ quốc gia, với những lời thơ chân thật, hào hùng, bày tỏ lòng thương yêu đất nước, và đau xót cuộc chiến bại bất khả kháng.
Những ý kiến phát biểu về con người Quốc Nam, về những xúc cảm của một người lưu vong đã quá đầy đủ. Tôi phải tìm một góc nhìn khác cuả thơ Quốc Nam, để thưa chuyện cùng quý vị cho khỏi trùng lặp.
Kính thưa quý vị,
Quốc Nam đã sáng tác 2 tập thơ ở hải ngoại gồm khoảng 100 bài, có bài ngắn gọn gồm chừng 4, 5 đoạn thơ (khoảng 20 câu), nhưng có bài thực dài, dài tới 80 câu. Thơ anh viết gồm đủ loại có thể chia ra như sau:
4 bài “thơ văn xuôi”, 11 bài thơ 5 chữ, 4 bài thơ 6 chữ, 18 bài thơ lục bát, 16 bài thơ thất ngôn (7 chữ), 31 bài thơ 8 chữ, 2 bài thơ 9 chữ.
Tính tỉ số thì nhiều nhất là:
- Thơ lục bát 1/4 tổng số
- Thơ thất ngôn 1/5 tổng số
- Thơ tám chữ 1/3 tổng số
Tôi cho là 3 loại thơ này là sở trường của Quốc Nam. Bởi vậy tôi chỉ xin trích 3 bài thơ về 3 loại nói trên, tức là 1 bài lục bát, 1 bài 7 chữ, 1 bài 8 chữ.
Để bàn về kỹ thuật thơ của tác giả, tôi xin mượn lời nhận định của học giả Phạm Quỳnh về THƠ, để căn cứ vào đó mà phân tích:
“Thơ khác với văn xuôi, không phải chỉ ở vần, mà thứ nhất ở điệu nữa (điệu do hai nguyên tố hợp thành âm thanh và tiết tấu). Phàm văn chương hay là thứ nhất ở lời văn điêu luyện, thứ nhì là ở ý tứ thâm trầm. Có ý tứ mà lời văn không đạt thì ý tứ cũng không biểu lộ rõ được, có lời văn đẹp mà không có ý tứ gì, thời khác nào cái vỏ mà không có ruột, có xác mà không có hồn”.
Ở phía trời Tây cũng thế, ông George Pompidou một giáo sư thạc sĩ, một thời làm Tổng Thống Pháp đã nói khi hỏi: Thơ là gì?

“Khi mà một bài thơ, hoặc chỉ là một câu thơ, mà gây cho độc giả một sự xúc động, thấy mình như thức tỉnh, hay chìm trong cõi mộng, hay trái lại khiến cho độc giả phải hạ mình xuống tới độ đối diện với con người và vận mệnh, như thế là thơ đã đi tới thành công”.
Với những ý kiến và nhận định nêu trên, tôi xin đọc 3 bài thơ lục bát, thất ngôn và thơ 8 chữ của Quốc Nam, để xem về kỹ thuật làm thơ của anh như thế nào? Trước hết, tôi xin đọc một bài thơ lục bát “Bến Cũ”:

“Mơ trăng thuyền lạnh đôi bờ,
Người đi ly biệt hay chờ thiên thu.
Nhạc vàng bến ấy xa mù,
Em còn đứng đó phù du gọi mời.
Tôi con nước chảy về xuôi,
Tấm thân bách chiến rã rời sớm khuya.
Mài gươm nợ nước thù nhà,
Tôi về bến cũ khúc ca khải hoàn”
Sau đây là một bài thất ngôn “Người Tình Hậu Giang”. Bài này tôi nêu ra để xem khi làm thơ, anh có tôn trọng luật thơ không?
“Anh đã nỗi buồn, một kiếp mang.
Chiều mây xám ngắt, lạc cung đàn.
Em, cô phụ vẫn hồn phong kín,
Trên dốc cao nguyên bỗng địa đàng.
Nụ hôn rất nhẹ, thoảng vô hình,
Quấn quít vòng tay. Vỡ thủy tinh.
Cô phụ, tiếng cười pha nước mắt,
Anh tìm hạnh ngộ giữa môi xinh.
Và đó tình ta thành biền lớn,
Em là bóng dáng một quê hương.
Anh yêu Sông Hậu vang trùng sóng,
Vút giải nhân hà phủ xóm thôn.
Anh đã niềm vui, con nước lên,
Đưa em về bến cũ bình yên.
Mốt mai ta dựng xây tiên giới,
Trong trái tim nhau, vẹn ước nguyền”
Hoàn toàn anh là một quân nhân, có kỷ luật, không ba gai lắm. Tôi đoán chừng thế. Trong lãnh vực thi ca, anh đã tôn trọng luật thơ. Đa số những nhà thơ trẻ ngày nay hay phá lệ. Khi đọc thơ của Quốc Nam, tôi nhận thấy rất là chỉnh về luật thơ. Thứ hai nữa, anh dùng từ ngữ đảo nghịch, nhưng không gây ra sáo ngữ. “Anh đã nỗi buồn một kiếp mang” tức là anh đã mang một nỗi buồn suốt một kiếp người. Sự đảo nghịch này đã tạo một nét riêng cho “thơ Quốc Nam”.
Xin đọc bài thơ 8 chữ của Quốc Nam. Thực ra, thơ 8 chữ Việt Nam mình có từ lâu lắm rồi, nhưng mà nằm trong những bài hát nói, và sau này bị ảnh hưởng bởi Pháp, cho nên mình đã lấy loại thơ Alexandrins có 12 tiếng để làm thơ mới của mình. Loại thơ 8 chữ, có người dùng vần liên tiếp, hoặc là có người dùng vần chéo. Nhưng ở đây, Quốc Nam dùng vần liên tiếp:
“Thơ đã chảy trăm ngàn con suối lệ,
Ta thề nguyền chôn chặt khối tình riêng.
Còn thấy đâu trời bóng núi Lâm Viên,
Ta rũ rượi trong lưu vong đày ải.
Ta có ước mơ được mùa cây trái,
Tiếng sáo thanh bình sông vắng làng xưa.
Quê ta nghèo nhưng tình đậm thiết tha,
Em áo tím trọn một đời chung thủy.
Ta có quê hương vẫn đầy lũ qủy.
Mẹ ta ngậm ngùi chín suối phương xa.
Ta nhớ vô cùng màu đỏ “Alpha”,
Nuôi chí ta thành Trường Sơn lửa dậy.
Xin thắp sáng hồn ta ngàn thúc đẩy,
Chiến sĩ oai hùng hèn hạ vậy ư?
Đã nhiều năm chỉ uống rượu tiêu sầu,
Sao quên máu xương anh em, đồng đội?!
Em áo cưới biết bao năm vẫn đợi,
Một ngày quân về rợp bóng chinh y.
Cờ Quốc Gia tung bay rộn kinh kỳ,
Thân bách chiến ta tiếc gì máu đổ.
Ta bỏ ngũ nên lưu vong khốn khổ,
Bại tướng bôn đào, vận nước đổi thay.
Hãy đốt lửa ta hừng hực gan đầy,
Yêu dấu em với tình cao nghĩa rộng.
Nếu mốt mai ta chết khi tìm sống, 
Cho muôn dân đang ngóng đợi quân về.
Em cứ coi ta đã vẹn câu thề,
Xác thân đã trả nợ non sông cũ”
Đọc xong 3 bài thơ trên đây, tôi có ý nghĩ như sau: Loại thơ 8 chữ là loại thơ rất hợp với những lúc kể chuyện lại, hay là những loại thơ hào sảng, hùng tráng, thì dùng loại thơ 8 chữ nhiều chữ hơn và hợp loại đó. Nhưng mà trong tiếng Việt mình biết là có một âm bình, còn 5 dấu nữa, vậy là mình có 6 âm tất cả. Nếu có những người muốn làm cho khác mọi người, có khi dùng toàn vần bằng, thì nghe nó u sầu. Khi nào muốn tả buồn thì dùng một câu toàn vần bằng, khi mà một câu dùng toàn vần trắc thì người ngâm thơ không thể nào ngâm được vần trắc. Nếu mà hòa hợp giữa vần bằng và vần trắc, thì thơ rất là êm dịu, như là thơ mà tôi đã đọc của Quốc Nam.

Thứ nhất, Quốc Nam đã chịu giữ luật thơ trong 3 loại thơ sở trường của anh, tôi thấy là rất đạt; thứ hai là thơ của Quốc Nam có nhạc tính, bằng chứng là anh đã có 3 nhạc sĩ phổ 3 bản nhạc từ tập thơ “Người Tình Quê Hương” của anh. Cho nên, thơ Quốc Nam giữ được nhạc lý, âm điệu và tiết tấu. Thứ ba là Quốc Nam có những câu thơ có thể gây xúc động cho người đọc. Tôi thấy phần nhiều là thơ lục bát của anh, có những câu rất cảm động, và đọc lên rất là thấm thía. Ví dụ:
“Tôi con nước chảy về xuôi,
Tấm thân bách chiến rã rời sớm khuya”
Đọc lên ta cảm thấy buồn man mác. Tôi vừa nêu ra 3 bài thơ để nói về thơ Quốc Nam, bởi vì thơ của anh rất nhiều, không thể nào nói hết một buổi được, thành ra tôi chỉ xin nêu một số điểm hay của thơ anh mà thôi. Xin cám ơn quý vị. (HÀ BỈNH TRUNG)”

Sự ra đi vĩnh viễn của cây bút lừng lẫy Hà Bỉnh Trung tất nhiên là một sự mất mát lớn cho nền văn học nghệ thuật Dân Tộc Việt. Tôi ngậm ngùi vĩnh biệt ông, người đã dành cho tôi sự khích lệ quý giá về “một đời sống chết vì văn hóa của tôi”. Xin trang trọng nguyện cầu hương linh ông sớm về nơi vĩnh phúc.

QUỐC NAM (Tháng tư đen năm 2012)

Last Updated on Sunday, 26 August 2012 17:41
 

Sổ Vàng

An-Lộc Foundation