Font Size

Profile

Menu Style

Cpanel
Thư gởi Người Tình Quê Hương số 1 PDF Print E-mail
Written by Editor   
Thursday, 26 April 2012 20:01

Thư gởi Người Tình Quê Hương số 1

 alt

Em rất yêu dấu,

Thư này anh viết cho em từ một vùng trời hải ngoại bạt ngàn thông xanh, mà người ta gọi là ‘Cao Nguyên Tình Xanh’.

Khí hậu nơi đây, bây giờ, ấm áp. Mùa hè đang trải dài trên những triền núi, thung lũng, hồ, biển, bên bờ Thái Bình Dương bao la, ngàn đời sóng vỗ, ru anh vào niềm tiếc nhớ không nguôi.

Bởi vì, dường như đôi ta cùng mang nỗi nhớ và nỗi chết ngập ngụa tâm hồn như nhau. Không ân hận, không màu mè, và không hề vướng víu bụi trần. Anh yêu em. Em yêu anh. Mối tình thăng hoa tuyệt vời, và chưa từng hòa trộn thịt da. Đó phải chăng là một mối tình thánh thiện, tưởng chừng như không thể có trên cõi đời ô trọc này. Nhưng anh và em đã là chứng nhân của nhau, thì sá gì chuyện có hay không.

Thế mà... hơn 24 năm đôi ta đã cách ly biền biệt... Không ngờ... Qủa thực anh không ngờ... Ngày sinh nhật thứ 55 của anh, tháng chín mười lăm, đột nhiên anh nhận được tấm thiệp chúc mừng Sinh Nhật của em, với dấu ấn bưu điện Hoa Kỳ cho biết em gởi thư đến đây từ thành phố Topeka, Kansas. Em viết vài hàng chúc ‘Happy Birthday’, đồng thời cho biết em mãi mãi yêu anh, và vẫn theo dõi từng bước chân anh đi trên con đường phục vụ văn hóa dân tộc và cộng đồng. Sau cùng, em cầu chúc anh an vui, và thắng lợi mọi mặt. Bao thư không có địa chỉ của người gởi.

Anh đã bàng hoàng cả giờ đồng hồ, sau khi đọc xong Thiệp chúc sinh nhật với nét chữ thân quen của em. Trời ơi! Sau ngót 1/4 thế kỷ chia tay nhau, tưởng chừng vĩnh viễn mất dấu nhau, nay bỗng dưng nhận được những giòng thư của người yêu dấu nhất đời mình, thì thử hỏi anh không vui mừng như điên cuồng sao được!

Và rồi biết bao kỷ niệm cũ giữa anh và em, như cuốn phim lần lượt trở về tâm trí anh, rõ từng nét như vừa mới xảy ra hôm qua...

Ngày 30 tháng tư năm 1975, khi đoàn xe tăng của bộ đội Việt Cộng tiến vào thủ đô Sài-Gòn, anh vẫn còn lái xe vespa trên đường phố, và chưa biết đi đâu, trong khi vợ con anh đã lên máy bay qua đảo Guam. Khoảng 1 giờ trưa, khi chạy xe ngang thương cảng Sài-Gòn, anh thấy đông đảo người đang bước xuống các con tàu lớn, nhỏ. Anh vội bỏ xe bên cổng Kho 5, và nhảy xuống con tàu Trường Xuân đã rất nhiều người đứng ngồi ngổn ngang trong boong tàu. Khoảng 1 giờ rưỡi, con tàu Trường Xuân cũ kỹ mới rời bến cảng Sài-Gòn. Rồi sau bao nhiêu trở ngại chết người và đói khát hơn 4 ngày đêm trên mặt biển, có lúc con tàu Trường Xuân bị nước tràn vào suýt chìm xuống lòng đại dương, ngót 4 ngàn sinh mạng mới được tàu Clara Maersk của Đan Mạch cứu vớt đưa vào đảo Hongkong buổi tối ngày 4 tháng 5 năm 1975. Anh cũng theo đoàn người vào trại tị nạn Sekkong, và được đưa qua tiểu bang Washington đoàn tụ với gia đình vào đúng tháng 9 sinh nhật thứ 31 của anh.

Cũng tháng 9 năm ấy, em nhớ chăng, anh đã tình cờ gặp em trong một buổi họp mặt tại Seattle do Cơ Quan USCC tổ chức. Khi tên Quốc-Nam được giới thiệu, anh thấy vợ chồng em tiến lại phía anh. Mặt em đỏ bừng và giọng run run em nói: ‘Có phải ông là nhà thơ Quốc Nam, tác giả tập thơ Người Vào Cuộc Chiến?’ Anh đứng dậy, rất cảm động, đưa cả hai tay nắm chặt lấy bàn tay của cặp vợ chồng trẻ, và gật đầu. Em giới thiệu chồng em là một Bác Sĩ tị nạn. Khi còn ở quê nhà, vợ chồng em thường xuyên nghe chương trình thi ca Mây Tần của Đài Phát Thanh Sài-Gòn, và rất thích những giòng thơ của Quốc Nam được ngâm qua làn sóng điện. Thuở học trò, em từng cắt một số bài thơ của anh đăng trên báo, để lưu giữ trong một tập sách thơ riêng. Anh ngây người trước chiếc áo dài màu tím em mang trên thân thể tuyệt mỹ. Giọng con gái Miền Nam và đôi mắt đẹp như hồ thu của em bỗng làm trái tim anh xao xuyến. Em say sưa nói về những bài thơ của anh trong thi tập Người Vào Cuộc Chiến (xuất bản năm 1969), và không ngờ là có thể gặp Tác Giả ở nơi xứ lạ quê người, khiến người chồng có vẻ khó chịu lôi em đi nơi khác.

Từ đó, em và anh thường nói chuyện về thi ca với nhau qua điện thoại hàng giờ mỗi ngày. Anh được biết em là con gái của một điền chủ giàu có ở Định Tường. Chồng em là một học sinh nghèo, đã được ba má em giúp đỡ đi học qua bậc Tú Tài toàn phần, vào trường Đại Học Y Khoa để trở thành một Bác Sĩ. Em thương chồng nhưng không nể phục, nên đôi khi cãi vả nhau, bởi lẽ em cho rằng anh ta cưới em là vì lợi dụng sự giàu có và thế lực của gia đình em. Em thú nhận là yêu thi ca Việt Nam vô cùng, cũng như em đã yêu giòng thơ lãng mạn mà đầy tình tự quê hương dân tộc của Quốc Nam từ tuổi 16, và ước ao có dịp gặp mặt Tác Giả.

Anh vui sướng vô cùng, vì biết được rằng ít ra thơ mình cũng có một người con gái xinh đẹp Miền Nam là hồng nhan tri kỷ, chẳng khác gì câu chuyện giữa Bá Nha và Tử Kỳ bên Trung Hoa thuở xa xưa.

Anh đã tâm sự với em về cuộc đời gian truân của anh. Khi mới lên 10 tuổi, anh đã cùng bố mẹ vượt biển suýt chết mất xác, để di cư vào Miền Nam cuối năm 1954. Gia đình anh thuộc loại khá giả ở một làng quê miền Bắc. Tuy nhiên, khi bỏ trại định cư ra ngoài tự lập với hai bàn tay trắng, bố mẹ anh chỉ đủ tài chánh mua một căn nhà trong xóm lao động nghèo ở đô thành Sài-Gòn. Mẹ anh tuy gốc gác tiểu thư, nhưng bà đã phải tần tảo buôn bán ngoài chợ để nuôi 5 anh em của anh đều thành tài.

Anh biết làm thơ từ năm 12 tuổi, và mưu sinh bằng nghề cầm bút từ năm 17 tuổi. Sau khi trở thành một sĩ quan hiện dịch, anh là một người lính đánh giặc miệt mài, rồi hoạt động mạnh trong lãnh vực xã hội cũng như chính trị, luôn luôn chống bọn cường quyền tham nhũng, và bênh vực những người cô thế. Chính bởi vậy, anh đã bị ám sát 2 lần tại Hốc Môn và Củ Chi.

Khi anh bước chân xuống con tàu định mệnh Trường Xuân rời cảng Sài-Gòn, thì anh đã tự nhủ với lòng mình rằng: ‘Ta đã mất nước, nghĩa là đã mất hết mọi thứ, kể cả sự nghiệp và tiền bạc. Ta đã trở thành con số không. Vậy ta phải làm lại cuộc đời từ đầu, với lòng nhẫn nhục tối đa’.

Tại đô thị ngọc bích Seattle, anh đã gặp em, một người thiếu phụ duyên dáng và tâm hồn ngát một màu thơ. Như tiếng sét ái tình giáng xuống giữa đôi ta, anh và em đều nghe trái tim mình rung động mãnh liệt như chưa từng. Trong đôi mắt nhau đã là cuộc tình bất diệt. Dù rằng cả hai đều đang có người phối ngẫu bên cạnh.

Sau lần gặp gỡ định mệnh đó, em đã nghiễm nhiên trở thành nàng-thơ-không-rời của riêng thế giới thi ca anh. Đôi ta yêu nhau đắm đuối lạ thường. Nhưng truyền thống lễ giáo Á Đông đã vô hình chung ngăn cản đôi ta dừng lại nơi biên giới giữa tình yêu và tình dục. Trên những phong cảnh tuyệt đẹp của tiểu bang màu xanh Washington, đôi ta đã hẹn hò và tình tự bên nhau. Như nơi công viên trên đỉnh Rainier 14 ngàn 410 feet (núi cao thứ tư ở lục địa Mỹ Châu), bờ hồ Washington, vịnh Elliott, tháp Space Needle v.v... Những lần gặp gỡ tuyệt vời như thế, khi về nhà anh đều làm một bài thơ tặng riêng nàng-thơ của anh, và em tỏ ý rất trân qúy những vần thơ lãng mạn ấy, vì nghĩ rằng đó là món ăn tinh thần suốt cuộc đời còn lại của em.

Em nhớ chăng, ngày đôi ta du ngoạn đảo Victoria rực rỡ của miền Tây Gia Nã Đại. Giữa vườn hoa vĩ đại có hàng ngàn hoa hồng đủ loại, em nói sắp cùng chồng di chuyển về tiểu bang California để lấy bằng hành nghề Bác Sĩ tại Hoa Kỳ, anh đã nắm chặt hai vai em và nhìn thẳng vào đôi mắt rướm lệ của em. Bất chợt em ôm chầm lấy anh. Anh cực kỳ xúc động, đã hôn nhẹ lên đôi môi mọng đỏ của em. Nhưng đôi ta mới chạm vào môi nhau, đã như có một luồng điện đẩy ra, khiến cả anh và em đều bủn rủn tay chân. Nụ hôn tuy rất nhẹ nhưng gây xúc cảm tột cùng, và anh cho đó là nụ hôn thần thánh, bỗng chốc trở thành bất tử trong cuộc tình kỳ lạ của hai tâm hồn đồng điệu yêu thi ca Việt Nam. Đó cũng là nụ hôn đầu tiên và cuối cùng của đôi người-thơ yêu nhau tha thiết nhất trên hành tinh này.

Sau khi đôi ta chia xa nhau, anh đã lao mình vào những sinh hoạt văn hóa và cộng đồng. Anh làm việc bất kể ngày đêm, mỗi ngày tối thiểu 12 tiếng đồng hồ và 7 ngày mỗi tuần. Em biết tại sao không? Trước hết là tìm quên, để anh không còn thời giờ nghĩ nhớ đến em, người thiếu phụ có giọng nói ngọt ngào Miền Nam với chiếc áo dài màu tím hoa sim mang hình ảnh quê hương dấu yêu, mà anh đã thầm gọi là ‘Người Tình Quê Hương’. Đồng thời, anh còn thiếu một món nợ ân nghiã phải đền trả đối với những đồng bào của đôi ta, còn sống cơ cực tại quê nhà dưới chế độ hà khắc của Đảng Cộng Sản VN, nên anh cần vận dụng mọi phương tiện có thể, để nói lên những ước vọng bình thường của đồng bào trong nước đối với Thế Giới Tự Do. Bởi vì khi còn là một chiến sĩ xông pha ngoài chiến địa, một lần anh bị thương trận mất gần hết máu trong người. May nhờ những lượng máu của một số đồng bào vô danh bơm đủ vào thân thể anh, nên đã cứu mạng sống anh đến ngày hôm nay. Như vậy, số lượng máu hiện luân lưu trong châu thân anh gồm một nửa của mẹ cha, và một nửa của đồng bào góp lại. Do đó, anh có bổn phận giữ trọn hiếu với mẹ cha, và sống trọn nghĩa với đồng bào ruột thịt.

Em yêu dấu,

Trong gần 1/4 thế kỷ lăn lộn trong các sinh hoạt của các cộng đồng người Việt tại một số tiểu bang Hoa Kỳ, anh đã hiểu được phần nào tại sao người mình có quá nhiều lãnh tụ, và người thừa hành thì ít. Bởi lẽ phần lớn qúy vị lãnh đạo hội đoàn thường ‘nói nhiều làm ít’, vẫn giữ cái ‘tôi’quá lớn, và bệnh hoang tưởng đã ăn sâu bám rễ trong đầu óc họ. Giữa bối cảnh tị nạn tang thương đó, anh đã thu thập được nhiều cảnh đời cười ra nước mắt, và cố gắng hoàn thành cuốn trường thiên tiểu thuyết mang tựa đề ‘Chuyện Người Buôn Ảo Mộng’ dự trù dày trên một ngàn trang. Và chắc chắn trong cuốn sách đó sẽ có hình ảnh thiên thần của em, Người Tình Quê Hương tuyệt vời nhất đời thi ca của anh. Trong tiểu thuyết này, cũng sẽ có mảnh đời của một người buôn ảo mộng cực kỳ độc đáo. Đó là một ông-làm-báo rất nhà nghề, từng sáng lập ra nhiều tờ báo và tạp chí văn học nghệ thuật tại Hoa Kỳ. Ông có vợ, và các con đều đã lớn khôn. Đầu óc cáo già của ông mang nhiều giấc mộng lớn. Ông có một người tình trẻ cỡ tuổi con gái lớn của ông, nhan sắc tuy dưới mức trung bình một chút song thân thể cũng đang độ nẩy nở, hấp dẫn được một ông già lục tuần như ông. Mộng của ông là biến cô bồ nhí quê mùa trở thành nữ chủ nhân một đại nhật báo Việt ngữ ở hải ngoại. Bỗng dưng anh trở thành người trong cuộc, khi ông ta đã nhờ anh lên sân khấu phong chức Chủ Bút cho cô nhân tình của ông. Trước đó, ông đã mua bảo hiểm nhân thọ một triệu Mỹ kim cho mình. Hai người hưởng ‘beneficiary’ do chứng khoán bảo hiểm của ông là vợ ông và cô nhân tình, mỗi người sẽ được nửa triệu Mỹ kim, nếu ông qua đời.

Ít lâu sau, cô bé đứng tên trên pháp lý làm Giám Đốc nhật báo nọ, nắm hết tiền bạc của tờ báo do ông tạo dựng lên bằng biết bao công sức, và tìm cách hất cẳng ông ra khỏi cơ sở báo chí ấy. Trong khi sang đoạt tài sản của ông-làm-báo chuyên buôn ảo mộng nêu trên, cô bé đã tìm được một anh nhân tình mới. Quá uất ức vì bị cô nhân tình phản bội và cướp đoạt toàn bộ tài sản của mình, ông già tự tử. Nhưng ông vẫn để lại số tiền bảo hiểm nhân thọ lớn cho hai người nữ, mà có lẽ ông còn yêu thương cho đến khi nhắm mắt lìa đời. Anh cho đó là một thiên tình sử lãng mạn, bi đát và kỳ lạ nhất trong lịch sử tị nạn VN hải ngoại từ năm 1975 đến nay. Bởi vì một người đàn ông làm việc suốt đời chưa chắc đã dành dụm được vài trăm ngàn Mỹ kim, nhưng ông-làm-báo này khi nhắm mắt lìa đời đã để lại cho 2 người phụ nữ đi qua đời ông mỗi người nửa triệu Mỹ kim. Tuy nhiên, em yêu dấu ơi! Tấn bi hài kịch như vậy đã không đóng màn lại ngay, mà cô bé ẵm số bạc nửa triệu Mỹ kim cùng tài sản từ tờ nhật báo của ông-làm-báo, đã vong ân bội nghĩa với người chết một cách tồi tệ. Vợ chồng cô bé đã loại bỏ tên người sáng lập nhật báo ra khỏi trang đầu tờ báo, và đã bao nhiêu năm trôi qua, bọn vong ân bội nghĩa này đã chưa một lần làm lễ giỗ hoặc nhắc nhở đến công lao to lớn của ông già đối với cuộc đời của họ trên một cột báo nào!

Em yêu dấu,

Chuyện về những người buôn ảo mộng thì còn nhiều, nhiều lắm. Sau này, em coi cuốn sách ‘Chuyện Người Buôn Ảo Mộng’ sẽ biết rõ hơn những cảnh hỉ, nộ, ái, ố trong các cộng đồng ta ở hải ngoại.

Thư anh viết cho em cũng đã khá dài. Anh tin rằng em sẽ hiểu anh hơn những điều anh viết ra đây. Kể từ ngày đôi ta xa lìa nhau đến nay, hình ảnh em với chiếc áo dài màu tím vẫn nằm sâu trong tim óc anh, rực rỡ, không rời. Anh vẫn yêu em vô cùng và mãi mãi, dù đôi ta rất khó có cơ hội sum họp. Trong nỗi niềm tuyệt vọng ngọt ngào đó, anh chợt khám phá ra rằng: khi thấy bất cứ người phụ nữ Việt Nam dịu dàng và ân cần nào trong chiếc áo dài quê hương, anh cảm thấy như hình ảnh ‘Người Tình Quê Hương’ đang hiện diện trong khoảng không gian ngạt ngào sắc hương. Ở đó, trong mỗi người-nữ-áo-dài đã là một ẩn hiện của một quê hương thắp sáng trong tận đáy sâu tâm hồn thi nhân anh. Và anh thực sự yêu em vô cùng tận, hỡi Người Tình Quê Hương trăm năm ngóng đợi.

Ở phương trời nào đó trên mặt địa cầu, anh cầu chúc em-yêu-dấu mãi mãi là một Người Tình Quê Hương xinh đẹp tuyệt vời, và gặp vạn sự như ý trong cảnh đời lưu vong. Anh xin cám ơn nàng-thơ-áo-tím vẫn dành cho anh một tình yêu không hề nhạt phai, dù đã trải qua gần phần tư thế kỷ đôi ta xa cách nhau muôn trùng.

Hẹn em mai này cùng trở về xây dựng lại quê mẹ, trong ánh sáng Tự Do Dân Chủ trải dài trên khắp Ba Miền đất nước thân yêu.

Washington, ngày 15 tháng 9 năm 1999

Hôn em,

Tình Quân của Quê Hương Việt Nam

(Sáng tác bởi QUỐC NAM)

alt

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Last Updated on Tuesday, 26 February 2013 10:09
 

Sổ Vàng

An-Lộc Foundation