Font Size

Profile

Menu Style

Cpanel
Tác giả Phong Thu: Mùa thu trên Cao Nguyên Tình Xanh PDF Print E-mail
Written by Editor   
Wednesday, 25 April 2012 12:04

Mùa thu Trên Cao Nguyên Tình Xanh

* Bút Ký của Phong Thu

Tôi đến Cao Nguyên Tình Xanh như cơn gió, và tôi từ giã những khuôn mặt thân mến cũng hối hả như cơn mưa chiều của cao nguyên yên tĩnh, và dễ yêu nầy. Khi máy bay sắp đáp xuống phi trường Seattle, tôi phóng tầm mắt ra khung cửa kính và nhìn những đám mấy trắng xốp đang bay lơ lững. Phía dưới, thành phố Seattle lộng lẫy, xinh đẹp và tráng lệ dưới ánh nắng dịu nhẹ của một ngày chớm thu. Tôi nhìn thấy biển xanh mát, êm ả bao quanh một vùng đất rộng lớn có nhiều cây thông thẳng tắp xen kẻ với những biệt thự sang trọng. Thành phố đẹp như một bức tranh nửa hiện đại nửa thơ mộng.

Người đến đón tôi tại sân bay là nhà thơ Trần Thế Phong. Anh vui vẻ đưa tôi về khách sạn. Trên đường đi, tôi hỏi thăm gia đình của anh. Anh cho tôi biết anh là cháu của hoạ sĩ Vũ Hối. Tôi nghe xong đã thấy ấm lòng. Ước chi mỗi tiểu bang có chừng mười vị bà con với hoạ sĩ Vũ Hối thì sướng biết bao? Đến khách sạn tôi gặp ngay chị Ngọc An và một số nhà văn, nhà thơ nữ. Chị Ngọc An vui mừng và nói tía lia “Phong Thu ơi! Mình ở chung phòng nhé”. Tôi cười hì hì. Vậy là chị mang cái gông vô cổ khi “muốn” ngủ chung phòng với tôi.

Trụ sở Đông Phương Foundation là một ngôi nhà xinh xắn nằm trong một miếng đất tương đối rộng để chúng tôi đậu xe. Một pho tượng vàng nằm ở cuối sân, và những chiếc ghế đá nằm dọc theo những hàng cây nho nhỏ bao quanh hàng rào. Pho tượng vàng là niềm tự hào, kỷ niệm và vết tích của một người suốt đời mê văn học, yêu thích truyền thông báo chí như một phần đời của thi sĩ Quốc Nam. Pho tượng nhỏ bé cũng đã đi theo anh suốt những ngày tháng đầy gian truân, bất trắc, đau khổ, nước mắt và cả vinh quang. Những gì anh có và những gì anh mất trong tâm tư, trong âm thầm ai biết? Những gì anh nhận được cũng vô giá và lớn lao không kém. Trong những ngày Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ Hải Ngoại có nhiều người bạn đã đến chia sẻ cùng anh, và các nữ văn nghệ sĩ đã dành cho anh thật nhiều tình cảm.

Tôi bước vào trụ sở và gặp chị Mỹ Dung, vợ anh Quốc Nam. Chị giản dị, vui vẻ, tươi cười với chúng tôi như chào đón những người thân đi xa mới về. Chị có giọng nói và nụ cười Miền Nam làm cho tôi “mê” chị ngay từ đầu. Tôi nhìn quanh đã thấy hai bên cửa hội trường dã chiến (nơi anh Quốc Nam dựng tạm thời bằng vải và gỗ) là hai tấm bảng màu xanh lá xây được khắc chữ Trắng rất trang trọng: “Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ Hải Ngoại”.

Đêm đầu tiên, tôi gặp được hầu hết các chị văn nghệ sĩ: Thu Nga, Vũ Thị Dạ Thảo, Mộng Tuyền, Kiều Mỹ Duyên, Jackie Bông, Khuê Dung, Trúc Giang và phu quân, Thư Khanh, Miên Du, Vũ Hoài Mỹ, Kiều Mộng Hà, Hoàng Xuyên Anh, Hoàng Trúc Ly, Chu Kim Oanh và phu quân, Hiền Vy và phu quân, Mộng Tuyền, Mộng Trinh. Tất cả các, các vị Đại Diện của cộng đồng, và Hội Đoàn của Seattle cũnh hết sức nhiệt tình đến đón chào chúng tôi ngay đêm tiền đại hội: quý Nguyễn Bác Aí, Tăng Phước Trọng, bà Tăng Xuân Hoa và các chị hội Phụ nữ Mê Linh, cựu Đại Tá Phạm Huy Sảnh, nhà thơ Hoàng Mai Nhất và hiền thê, anh chị Thanh Mẫn, nhà báo Hùynh Kim Anh, thi sĩ Vĩnh Tuấn, cựu đại tá Hứa Yến Lến, ông bà John Liêu Trai, chị Ánh Tuyết. Ngày hôm sau, chúng tôi mới gặp mặt nhà văn Nhật Thịnh và Khuê Dung, thi sĩ Như Hoa Lê Quang Sinh, thi sĩ Hải Triều, bà Nguyễn Thị Ngọc Dung, ca nhạc sĩ Nhật Hạnh, điêu khắc gia Phạm Thông và phu nhân, nhà thơ Phan Nam. Đặc biệt hai phóng viên trẻ tuổi, tuấn tú của đài truyền hình STBN, đầy năng động và tận tụy, đã theo cô Kiều Mỹ Duyên làm phóng sự suốt ba ngày Đại Hội. Mọi người giới thiệu tên và làm quen với nhau. Tôi có dịp tiếp xúc với hoạ sĩ Nguyễn Minh và phu nhân, người đã vẽ tặng đại hội bức tranh rất đẹp có ba cô gái Bắc-Trung- Nam và lá cờ vàng ba sọc đỏ mang hình vòng cung bao quanh hai quyển sách. Anh Quốc Nam còn cho biết anh Minh còn là một điêu khắc gia đã tạc bức tượng vàng cho Cơ Sở Văn Hoá Đông Phương. Chị Trần Ánh Tuyết (Chủ Tịch Liên Minh Dân Chủ VN tiểu bang Washington) cũng có mặt ngay đêm đó. Ai ngờ một người phụ nữ xinh đẹp, có nét mặt hiền thục lại là một nữ tướng xông pha trận mạc, tranh đấu như nam giới.

 

NHỮNG ĐÊM KHÔNG NGỦ

Phòng tôi có tất cả bốn nữ lưu: quý chị Ngọc An, Vũ Hoài Mỹ, Hoàng Xuyên Anh và tôi. Tôi là con nhỏ mất ngủ kinh niên. Tôi có chứng bệnh nhớ nhà, nhớ các con... Đúng là bà già ngớ ngẩn. Tôi lại là người ở vùng Đông Bắc với kim đồng hồ chạy nhanh hơn các chị ở California 3 tiếng, nên tôi đã làm phiền các chị. Tôi không ngủ và còn nghịch ngợm, chọc ghẹo. Chắc chắn chị Ngọc An sẽ không bao giờ còn “mê” ngủ chung với tôi. Còn chị Hoài Mỹ và chị Hoàng Xuyên Anh thì “chán” tôi ra mặt. Trong ba đêm, hai đêm tôi ngủ chỉ có hai tiếng đồng hồ và không say giấc. Đêm thứ ba thì thức suốt đêm. Cũng trong hai đêm ngủ chung, tôi đã mơ màng nghe Vũ Hoài Mỹ kể lại câu chuyện tình dang dở và người yêu ngày xưa đã mang hình bóng nhà thơ đi vào lòng huyệt mộ. Chị Hoàng Xuyên Anh kể về sự bất hạnh của chị và nguyên nhân đã đưa chị đến làm bạn với thơ ca. Nếu với Vũ Hoài Mỹ thơ là trải rộng tình yêu và thiên nhiên vô tận, thì thơ của Hoàng Xuyên Anh là trái tim nức nở than khóc cho thân phận bất hạnh, là những giọt nước mắt gởi đến người tình trăm năm đã ra đi vĩnh viễn.

Vũ Hoài Mỹ trãi lòng mình trong thi phẩm “Vạn Thuở Còn Yêu” với những vần thơ chứa đựng những khúc hát yêu thương, hạnh phúc rộn rã:

"... Thương anh tiếng gọi mình ơi!

Êm như những giọt mưa rơi ngập ngừng

Nghe sao tha thiết muôn trùng,

Dấu yêu ươm mật ngọt nồng khẽ ru”...

(Điệp Khúc Yêu Thương)

Một người vui bên hạnh phúc, và một người buồn trong niềm ly biệt thật khác nhau. Cả hai người nằm chung nhau một cái giường mà tâm tư, cuộc đời thật trái ngược. Hãy nghe Hoàng Xuyên Anh than thở. Tiếng thơ của chị xé lòng và chất chứa tất cả niềm đau:

... Tình đầy cho kẻ thương đau,

Nửa chừng xuân mộng lao đao cuộc đời...

................

Bao nhiêu tình ấy hôm mai,

Gom hoa trắng phủ quan tài cho anh.

Nén hương khấn nguyện lòng thành,

Môi son má phấn trơ cành cây khô.

Sao trời lạc bến hư vô,

Tiếng than ai oán tiếng thơ ngân sầu.

(Tình người cô phụ)

Nhà thơ Ngọc An cũng một đời lận đận lao đao. Tôi chưa nghe hết lời tâm sự của chị. Tôi cũng không muốn tìm hiểu thêm về cuộc đời người khác. Vì tôi hiểu đó là một cõi riêng mà mỗi người giấu kín trong tâm tư mình. Chiếc bóng cô đơn như con chim lẻ bạn đi tìm một tổ ấm tình yêu. Tuổi xuân trôi đi mà lòng vẫn quạnh hiu. “Quân tử đời nay đâu có dễ tìm hả chị?” Tôi đã từng cười cười và nói đùa với chị như vậy. Tôi chỉ cảm nhận thơ chị là sự đan kết những chuỗi sầu của cuộc đời:

... Xác lá chiều thu tơi tả bay

Bên trời gió nhẹ thổi heo may

Thi nhân ngắm cảnh buồn chi lạ

Xót kiếp con tầm tựa khói mây...

........

Để buồn trằn trọc suốt năm canh

Sợi tóc sầu rơi phận mỏng manh

Hoài bão chôn vùi theo nỗi khổ

Thời gian sao nỡ quá vô tình?

(Mùa Thu và Thi Nhân)

 

TIẾNG CHUÔNG TỰ-DO, CHÙA CỔ LÂM VÀ NHỮNG TẤM LÒNG VÀNG.

Sáng thứ 7, tôi vội vã trang điểm cho tôi và làm đẹp cho chị Hoàng Xuyên Anh. Tôi thấy chị rất cảm động. Giúp ai một cái gì nho nhỏ cũng là một niềm vui của chính mình. Tôi hay nhủ lòng mình như vậy. Chúng tôi đã bỏ quên chị Vũ Thị Dạ Thảo ở khách sạn. Tôi và chị Ngọc An rất lo lắng. Ngày diễn hành hết sức quan trọng. Lần đầu tiên, tôi được nhìn thấy một cái chuông Tự Do nặng trên 4500 Lbs đã được đặt trên một chiếc xe mui trần. Trên xe có ghi rõ tiểu sử của chiếc chuông đồng và một tấm bảng xanh đề ĐHVCPNHN. Người đánh tiếng chuông là cụ Võ Trung Chánh (cựu Trung Tá QLVNCH), người nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn và hết lòng với Đại Hội.

Đoàn xe của chúng tôi đi sau chiếc xe van kéo theo cỗ Chuông Tự Do (LIberty Bell). Mỗi chiếc xe chở một hoặc hai nữ sĩ có dán tên ngoài cửa và cờ vàng ba sọc đỏ bay rợp trời. Tiếng chuông ngân vang động cả không trung, phá tan bầu không khí yên tỉnh và trầm mặc của buổi sáng trên Cao Nguyên Tình Xanh. Tiếng chuông như đánh thức lòng người nghĩ về vận nước và đừng quên quê hương chưa có tự do. Nắng sớm rơi nhè nhẹ trên vạn vật, hoà tan trong làn gió thu lành lạnh.

Đoàn xe chở chúng tôi đi ngang qua khu Little Saigon Seattle, International Distric, một phố đông đúc người Việt cư ngụ và những trung tâm thương mại. Cảnh sát đóng một đoạn đường khá dài để đoàn xe đi qua. Mọi người hai bên phố ùa ra đường đứng xem. Trong đó có đủ các sắc dân, họ đưa tay chào chúng tôi với khuôn mặt vui mừng. Tôi thấy người Seattle thật hiền hậu, dễ mến. Họ không xô bồ, không ồn ào, và cần cù hơn những nơi mà tôi đã từng đến.

Chùa Cổ Lâm hiện ra uy nghi, cổ kính và thiêng liêng. Ở xứ người, nhìn thấy một ngôi chùa xây theo kiến trúc Việt Nam thì nhớ quê đến nôn nao cả lòng. Ngôi chùa xây trên cao có nhiều bậc tam cấp, và hai bên có mấy chậu bông Thọ Tây vàng rực. Mái chùa cong cong và sơn màu nâu như chiếc áo nâu giản dị của các nhà sư. Hai bên chùa trồng hoa, kiểng và có cả một cái lều bạt bán nước. Chúng tôi đi bên hông chùa vào trong hội trường. Nơi đây thoáng mát và ánh sáng tràn ngập làm tôi cảm thấy dễ chịu. Những món ăn chay nhà chùa nấu thì tuyệt vời. Tôi ăn nhiều hơn thường ngày, và khi ra về vẫn còn mơ một ngày nào đó sẽ trở lại thăm ngôi chùa xinh đẹp nầy.

Đặc biệt, tôi chưa thấy có nơi nào các vị lãnh đạo tinh thần yêu văn chương như ở Seattle. Tôi thấy có sự hiện diện của LM Trần Đức Phương, Đại Đức Thích Nguyên Kim, Ni Sư Trưởng Thích Nữ Giác Hương và Hiền Huynh Cao Đài Dương Thanh Liêm. Các vị ngồi xem, khuôn mặt vui tươi và chăm chú.

Số đồng hương đến tham dự rất đông, trong số đó có cả các cụ già tóc bạc phơ, lưng còng chống gậy vào xem. Có các em bé xinh xắn với đôi mắt tròn xoe như hạt nhản, nhìn chúng tôi với vẻ bỡ ngỡ và vui thích. Nhiều người chạy đến hỏi thăm tôi và mua sách. Các bác các chú, các anh chị biết tôi qua chương trình truyền thanh “Câu Chuyện Cộng Đồng và Văn Hoá Việt Nam”. Mỗi người nói một câu làm tôi rất cảm động. Những người Seattle đáng yêu, đáng quý đã dành cho chúng tôi thật nhiều ưu ái. Trên nét mặt của các má, các chú tôi thấy nơi đó bóng dáng của ba má tôi, bóng dáng luỹ tre xanh, đồng ruộng và những ngày tôi lặn lội trong thôn xóm đi sưu tầm dân ca Miền Nam.

Ở Seattle những đêm không ngủ, tôi khám phá được khí hậu mát lạnh và phong thổ đã ảnh hưởng đến tâm linh của con người. Tôi có nghe được lời tâm sự của một bác HO, bị mù một mắt. Bác cô đơn và buồn nên tâm sự với tôi. Nếu có thời gian, chắc tôi còn biết được thêm nhiều chuyện vui buồn của những người đồng hương lưu lạc. Chương trình bắt đầu, tôi và chị Thu Nga vừa bán sách, vừa làm MC với sự giúp đỡ của anh Vũ Sử và chị Ngọc Hân. Sau phần hát quốc ca Việt Mỹ, phút mặc niệm là chúng tôi mời từng nữ văn nghệ sĩ lên phát biểu cảm tưởng xen kẻ với phần văn nghệ. Nữ ca sĩ Yến Điệp, duyên dáng, dễ thương trong hát bài “Chiếc Áo Bà Ba” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh rất hay và rất Miền Nam. Bằng giọng hát ngân vang, lôi cuốn, ca sĩ Kim Chi đã trình bày nhạc phẩm “Mưa Rừng”. Nhạc sĩ Trần Trung Ngọc sáng tác và trình bày nhạc phẩm “Em về Vui Vạn Tiếng Ca”. Dù đã lớn tuổi nhưng giọng anh mạnh, tươi trẻ tạo sự rung cảm cho người nghe. Anh Nguyễn Minh Đường trong bộ quần áo cải lương vàng rực, đầu đội mủ oai phong như Võ Đông Sơ, anh đã diễn đạt xuất sắc vai Võ Đông Sơ Bạch Thu Hà. Giọng của anh thật mùi làm ai cũng thích thú vỗ tay rần rần. Chị Ngọc An với giọng ngâm ngọt ngào như “đường phèn”, đã ngâm tặng người Cao Nguyên Tình Xanh 1 bài thơ. Nhà thơ Vĩnh Tuấn, với tài ngâm thơ của anh đã nâng giá trị bài thơ cao hơn và anh đã làm rung động người nghe. Cháu Thiên Thanh con gái nhà thơ Hoàng Mai Nhất đã đọc tặng Đại Hội một bài thơ mùa thu. Cháu còn bé mà đã yêu văn thơ và thể hiện tài làm thơ rất sớm. Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh có khác. Ba cháu là nhà thơ vui tính tốt bụng mà ai cũng mến.

Chiều đã tàn mà khách còn nán lại. Từng đợt người ra về, rồi từng đợt khác đến thăm chúng tôi. Cứ như vậy, những người khách dễ yêu đã mua sách tôi hết. Tôi không còn sách để tặng lại cho các chị trong đoàn làm kỷ niệm.

Đêm trở lạnh, chúng tôi trở lại trụ sở của Cơ Sở Văn Hoá Đông Phương. Các nữ vă nghệ sĩ bắt đầu cuộc họp. Chúng tôi bàn luận về chuyện thành lập một mạng lưới phụ nữ. Từ mạng lưới nầy, chúng tôi có thể liên lạc nhau bằng email và bắt đầu những công việc giúp đỡ phụ nữ, và các cô gái Việt Nam bị bán ra nước ngoài làm nô lệ tình dục. Đây là nỗi nhức nhối của người Việt Nam. Đêm đó, các anh chị ca hát vui đùa đến nửa khuya. Nhà thơ Hoàng Mai Nhất ngâm tặng chúng tôi bài thơ “Em...Sài Gòn”. Ca nhạc sĩ Nhật Hạnh, một phụ nữ có đôi mắt sáng và nụ cười tươi vui đã hát tặng tôi bài “Chim Đa Đa Số 3”, bài hát nầy dựa theo âm điệu bài hát “Đừng Trách Đa Đa” của nhạc sĩ Võ Đông Điền. Bài hát của Nhật Hạnh đưa tôi trở lại quê hương. Tôi nhớ lại ngôi trường cũ và nhớ người nhạc sĩ đã từng làm việc cùng tôi trong nhiều năm liên tục. Anh thầm lặng, ít nói và hiền hậu như dòng sông Cù Lao, huyện Tân Uyên. Nhạc anh chất chứa tình yêu quê hương, tình người và thiên nhiên. Bài hát của anh như một lời than trách người đi.

 

ĐƯỜNG LÊN ĐỈNH THIÊN THAI

Sáng chủ nhật, chương trình du ngoạn trên đỉnh núi Rainier thật ngoạn mục. Con đường dẫn lên núi ngoằn ngoèo như con rắn uốn mình quanh chân núi. Xe cứ chạy bon bon. Càng lên cao, khí hậu càng lạnh, chúng tôi có cảm giác ù cả hai tai. Nhìn cảnh đẹp bên đường tôi cảm tác viết bài thơ con cóc:

"Sương tan, nắng nhuộm lưng chừng núi,

Khói toả hương rừng, mây trắng bay.

Thu phong phủ kín chân trời xám,

Réo rắc ngàn thông mưa bụi rơi."

Người tài xế của chúng tôi là chồng của chị Chu Kim Oanh, chủ nhiệm báo Rạng Đông. Hai vợ chồng đến từ Arizona. Chị là một diễn viên điện ảnh có nụ cười rất duyên dáng. Tính chị cỡi mở nên chị kể chuyện cho chúng tôi nghe. Tôi nghe được câu chuyện tình thơ mộng và lãng mạn của con gái chị. Tôi học được nơi chị lòng kiên nhẩn và sự tha thứ qua câu chuyện hôn nhân và gia đình. Tôi ngồi gần chị Vũ Thị Dạ Thảo. Hai chị em tâm sự về Việt Nam. Chúng tôi có chung một cái nhìn về Việt Nam với tương lai không mấy sáng lạn của quê hương. Chị là người từng lặn lội đi nuôi chồng học tập cải tạo khi còn rất trẻ. Giờ đây, chị sống một mình với tâm sự cô đơn. Chị có nét đẹp đài các mà tôi đoán chừng khi còn trẻ chị là một đoá hồng nhung. Chị có đôi mắt, buồn như hai giọt nước mùa thu rơi trên cỏ lá. Mái tóc chị bồng bềnh như đám mây vừa bay ngang đỉnh núi Rainier. Nhìn chị, không ai hiểu được chị có nhiều nghị lực và trải qua cuộc sống gian truân. Chị tặng tôi quyển tiểu thuyết “Khung Trời Lắm Sương Mù”, một quyển sách tâm lý xã hội, chứa đựng nhiều tình tiết éo le không khác gì những truyện tình của Quỳnh Dao. Nội dung quyển sách phản ánh nỗi đau khổ của người phụ nữ Việt Nam trải qua ba thế hệ, và những tháng năm cô đơn trôi nổi nơi xứ lạ quê người. Nếu tôi không lầm thì chị đã gởi gấm tất cả nỗi lòng mình qua hình ảnh nhân vật chính mang tên Dung.

Cô Jackie Bông tặng tôi quyển hồi ký “Mây Mùa Thu”. Nội dung quyển sách nói về cuộc đời và thân thế của gia đình cô. Nhà thơ Phan Nam ký tặng tôi tập thơ “Đồng Vọng”. Tôi tìm thấy trong đó lời nhớ thương non nước.

Phụ nữ Việt Nam thật vĩ đại. Khi chiến tranh, đêm đêm không ngủ trăn trở, lo sợ, thấp thõm chờ chồng từ trận chiến trở về. Nếu chẳng may chồng chết, người goá phụ ở vậy nuôi con suốt đời. Sau 75, người phụ nữ như chiếc lá giữa dòng. Chồng đi cải tạo nên phải vừa làm mẹ, vừa làm cha lặn lội đi kiếm cơm, buôn thúng, bán bưng thăm nuôi chồng và nuôi dạy các con. Nhiều người liều mình vượt biển ra đi tìm tự do trong đói khát, hải tặc, chết trên biển cả, rừng sâu. Ra hải ngoại, người phụ nữ phải vất vả đi làm khuya sớm, giúp chồng nuôi con và tao dựng sự nghiệp bằng hai bàn tay trắng. Chưa có người phụ nữ nào trên thế giới khổ ải, trầm luân, đau khổ như người phụ nữ Việt Nam. Tôi ví người phụ nữ Việt Nam như một con cò cô đơn, bươi chải trên cánh đồng ruộng nước mênh mông mà ngày xưa cụ Tú Xương đã từng nói:

"Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non (*)"

 

Rặng Rainier đầy mây trắng bao phủ. Những làn sương mỏng manh, nhẹ hẳng, len lén rời khỏi những đỉnh cây cao bay toả lên trời thành những vệt trắng dài như nhưng sợi dây thừng nối liền trời và đất. Những rừng cây và thông, dương... mọc chen nhau dọc theo hai bên sườn núi. Chúng tôi hò reo khi đến nơi. Anh Quốc Nam và các anh chị lấy cờ ra giăng trên đỉnh núi và bắt đầu đi vòng quanh quan sát. Khí hậu lạnh hơn vì trời bắt đầu chuyển mưa. Nhìn nơi đây tôi nhớ Đà Lạt da diết. Tôi nhớ Hồ Than Thở mà nữ sĩ Miên Du, người đẹp Đà Lạt rung cảm dệt thành những vần thơ sầu muộn:

"Một Góc Trời Đà Lạt

Hãy giữ dùm ta một góc trời Đà Lạt

Nơi có những buổi chiều vàng nhạt nắng

Có gió reo cùng ngàn thông ca hát

Có cánh chim trời lẻ bạn lang thang!

Ta sẽ đến và sống đời lang bạt

Ôm hồ cầm gảy khúc nhạc chiều vàng

Theo đường xưa ta tìm Lưu Nguyễn lạc

Chào vĩnh biệt chuyện tình trong dĩ vãng!!

(Một Chút Hiến Dâng)

Miên Du tặng tôi tập thơ “Một Chút Hiến Dâng” và một CD nhạc gồm 12 ca khúc do chị sáng tác. Thơ và nhạc Miên Du diễn đạt tình yêu đôi lứa, yêu thiên nhiên, và triết lý cuộc đời. Tôi tìm thấy trong đó bàng bạc nỗi cô đơn, thân phận quạnh hiu và nỗi buồn của người đi tìm kiếm một giấc mộng lỡ làng.

Trời bắt đầu mưa và gió mang thật nhiều hơi lạnh. Chúng tôi ăn bánh mì trên xe, và thấy tội nghiệp cho anh Quốc Nam lội mưa đem bịch đựng rác và giấy lau tay cho chúng tôi. Những hạt mưa li ti lấm tấm rơi trên mái tóc đã hoa râm của anh.

Tôi nghe tiếng nói nhẹ nhàng của chị Vũ Thị Dạ Thảo thoảng bên tai: “Trời mưa mà lặn lội lo cho tụi mình. Thật là tội. Người có lòng như anh cũng có người ganh ghét. Mình không ngờ sau mười mấy năm gặp lại, anh đã thay đổi nhiều. Anh già đi và tóc anh đã bạc trắng. Không biết anh có điều gì lo lắng”. Tôi cười nhìn chị: “Anh vẫn còn phong độ lắm!” Thời gian mà. Thời gian là một ông thầy lão luyện, là nhân chứng sống của mọi thời đại, là người bạn đồng hành của ta. Thời gian cũng rèn luyện cho ta hiểu biết về mình hơn. Và thời gian cũng đã quất lên thân thể ta những ngọn roi nghiệt ngã của sự tàn phá.

Đường lên đỉnh thiên thai không có tiên nữ, chỉ có những người yêu văn thơ ca hát giữa lưng chừng núi. Tiếng hát bay về đâu, hay bay giữa lòng người mà ngày rời xa Seattle cứ nhớ rưng rưng.

Đêm dạ tiệc "bóng hồng quê hương" với phần tặng bằng khen, từng người một lên nhận bằng và cảm ơn quan khách. Cô Kiều Mỹ Duyên đã trổ tài bán đấu giá. Cô đã bán được quyển sách “Chinh Chiến Điêu Linh” với giá 430 đô la. Chương trình văn nghệ với giọng ca vút cao, truyền cảm của ca sĩ Thiên Trang, sôi động và bốc lửa của Shayla, trầm bỗng và ấm áp của ca nhạc sĩ Nhật Hạnh.

Tôi gặp được nhà thơ Lam Nguyên, cựu Chủ Tịch Cơ Sở Văn Hoá Đông Phương. Anh tặng tôi nhiều bài thơ. Tôi thích nhất bài thơ “Chiều Đồ Bàn” mang toàn vần bằng của anh:

"Vàng rơi, vàng rơi trên thành xưa

Đồ Bàn Hời nghe chiều hư vô

Ôi, nàng Chiêm bay về trong mơ

Nghe hồn đau làng quê bơ phờ!

......

Chiều vàng đi, chiều vàng đi rồi

Đồ Bàn xưa, còn vang âm thôi

Aâm thanh buồn nghe sao bùi ngùi

Ôi đời, ôi đời... trần gian ơi!..."

Trần gian là cuộc bể dâu đổi thay, thay đổi nên người Việt Nam như đàn chim lạc tổ xa rời mảnh đất quê hương. Có phải chăng tâm tư chúng ta cũng đang mang tâm trạng buồn đau như người Chiêm Thành mất nước thuở xưa?

 

TẠM BIỆT SEATTLE

Đêm chủ nhật tôi không ngủ. Tôi nôn nao muốn về nên sáng sớm mới 4 giờ tôi đã đến phòng vợ chồng điêu khắc gia Phạm Thông gỏ cửa. Anh nhìn tôi cảm thông và không cằn nhằn một lời. Anh hỏi “Bộ Phong Thu không ngủ được sao?” Tôi gật đầu cười. Một giờ sau, tôi lại đến. Anh chị đã thức giấc và chúng tôi cùng ra sân bay. Anh chị trở về Texas cùng một hảng máy bay với tôi và giờ bay chỉ sau tôi 30 phút. Chính vì vậy mà chúng tôi có kỷ niệm với nhau. Trong chương trình truyền thanh “Câu Chuyện Cộng Đồng và Văn Hoá Việt Nam”, anh Quốc Nam có giới thiệu anh Phạm Thông là một điêu khắc gia nổi tiếng. Anh đã dựng tượng đài Đức Trần Hưng Đạo chỉ tay xuống dòng sông Bạch Đằng, Sài Gòn cách đây 40 năm. Tượng đài đó gây ấn tượng rất mạnh đối với tôi khi tôi còn là sinh viên Đại Học và hay đi chơi lang thang trong thành phố Sài Gòn. Bao giờ đi ngang qua tượng đài, tôi đều nhìn ngắm như nhớ lại một sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước. Mới đây, anh đã xây dựng một tượng đài “Việt Mỹ” đồ sộ ở Houston. Anh lại là chủ nhiệm của tạp chí Con Ong, một tạp chí trào phúng và tranh đấu dân chủ, tự do cho quê hương Việt Nam. Nói chuyện trên đài, tôi tưởng anh là một ông già khó tính. Nào ngờ, anh lại là một nghệ sĩ có dáng dấp phong trần, khuôn mặt lanh lợi và nói chuyện rất tự nhiên, gây cười cho mọi người. Phu nhân của anh là một phụ nữ xinh xắn, dễ mến. Anh chị đưa tôi ra sân bay và còn chia bánh cho tôi ăn. Anh nói một câu mà tôi rất thấm thía: “Người ta bây giờ không thích đọc sách báo. Nhiều người ăn chơi một đêm 7, 8 trăm đô la. Nhưng mua một quyển sách 10 đồng bạc thì tiếc không muốn mua. Cái đời khốn nạn thế đó! Văn chương rẻ như bèo”. Chúng tôi chia tay nhau trong lưu luyến. Chị Thông hôn nhẹ lên má tôi từ giả. Có thể vì mến nhau, nên anh chị gởi báo và viết mấy dòng thật thân mến: “Tụi nầy nhớ Phong Thu lắm!”. Cám ơn tấm lòng tốt của anh chị dành cho Phong Thu.

Chuyến máy bay sớm đã đưa tôi trở lại Maryland. Qua làn gió thoảng, tôi gởi lời chào tạm biệt Seattle, những người bạn mới quen mà nhiều kỷ niệm. Không biết đến bao giờ tôi mới có dịp trở lại.

Tôi về Maryland và mãi đến hôm nay, tôi vẫn còn nhớ khuôn mặt của từng người bạn mới quen. Tôi nhận được nhiều email, hình, thơ các chị gởi tặng. Cô bé Mộng Tuyền gởi cho tôi tạp chí Bút Tre. Tâm hồn cô bé như lớp phù sa trên dòng sông đồng bằng Cửu Long Giang. Chị Kiều Mộng Hà vui tính, ăn nói nhẹ nhàng và thích làm thơ về Thiền. Chị gọi tôi là “làn gío nhẹ mùa thu” và gởi tặng tôi 4 câu thơ mang tựa đề “Trùng Cửu”:

"Cành rung, lá rụng, mây sầu

Con trăng trùng cửu qua cầu về đâu

Đêm nghe có tiếng nguyện cầu

Của bao nhiêu lá ngẩng đầu nhìn thu".

 

Tôi xin hoạ lại 4 câu thơ trên:

"Gió lay, lá đổ muôn màu,

Ánh trăng vạn cổ gởi sầu về đâu.

Thinh không vẳng tiếng kinh cầu,

Bâng khuâng ngàn lá vẫy chào nàng thu".

Khi tôi ngồi đây viết những dòng lưu niệm, ngoài kia mùa thu đã trãi rộng màu sắc trên cây cỏ. Thu đẹp, thơ mộng và mang mác nỗi buồn. Nhìn mùa thu bay ngang cửa sổ mang theo những chiếc lá vàng như đàn bướm vàng gãy cánh, tôi nhớ đến các anh chị, các chú bác tôi đã gặp trong những ngày hội ngộ tại Seattle. Mỗi khuôn mặt là một chiếc lá. Những chiếc lá hạnh phúc sẽ rơi vào vườn hoa và trên thãm cỏ xanh. Những chiếc lá bất hạnh sẽ bị gió, bão cuốn đi vào trùng khơi vô tận. Chỉ cầu xin mỗi chiếc lá có một màu sắc lộng lẫy, và lá sẽ mang cả linh hồn đi vào cuộc đời thơ văn nhiều gian khổ và đầy sáng tạo.

PHONG THU

Mùa thu Maryland, 11/2005

 


 

Sổ Vàng

An-Lộc Foundation