Font Size

Profile

Menu Style

Cpanel
NGUYỄN PHƯƠNG THÚY PDF Print E-mail
Written by Nguyễn Phương Thuý   
Friday, 06 April 2012 15:58

NGUYỄN PHƯƠNG THÚY

. Sinh năm 1954 tại Hà Nội, Việt Nam. Vào Nam năm 1954.

. Cựu học sinh trường Trung học Gia Long (1966-1973)

. Tốt nghiệp Kỹ sư Hóa học (Chemical Engineering) của Ohio University năm 1979

. Định cư tại Maryland, USA

. Làm việc  tại FAA (Federal Aviation Administration) từ năm 1990 đến nay, chuyên về Information Management, Integration and Standards, Business Process Improvement and Automation; software development

. Làm thơ từ những ngày còn học dưới mái trường nữ trung học Gia Long và tiếp tục viết văn thơ để bộc lộ tâm tư và chia sẻ đến vi hữu qua Internet

. Có một trang nhà đã hoạt động từ năm 2005:

http://authorkhanhha.com/thuyha12a2

. Tiếp tục phổ biến thơ, văn và MS PowerPoint shows qua các trang mạng, Đặc san Gia Long, diễn đàn vanchuongpn, và YouTube.

. Moderator của diễn đàn vanchuongpn

. Thành Viên của Ban Biên tập của Tuyển Tập Văn Chương Phụ Nữ VN.

 

 

 ĐÊM TRĂNG

Đêm thanh tịnh, vầng trăng cao vằng vặc,

Sáng lung linh thêm huyễn hoặc, tròn xoe,

Em nằm nghiêng, làn tóc xõa, rụt rè,

Tay mảnh khảnh hờ che miền nhục cảm.

Mắt long lanh đắm chìm hồn ngầy ngật,

Hé đôi môi như mời nhập thiên thai,

Trăng miên man ôm ấp trọn hình hài,

Lồ lộ nét, chói lòa đầy man dại.

Anh mê mẩn quỳ bên, thầm chiêm bái,

Tay run run nhè nhẹ vuốt, mơn man,

Sóng tình dâng, dâng dồn dập, tuôn tràn,

Ào ạt đổ, đẩy lui trăng vào tối.

 

Hảo nũng nịu dụi đầu vào ngực Đức. Đức nâng cằm nàng, định hôn vào đôi mắt long lanh, nhưng môi Hảo đã đặt vào môi chàng một nụ hôn mềm, ướt át. Vai áo Hảo tuột để lộ một phần bờ ngực đầy, thanh tân, Đức kéo lên, nhưng Hảo đã giữ tay chàng đồng thời ngả người nằm dài trên sofa. Đức nhẹ nhàng cởi chiếc áo ngủ mong manh. Hảo lồ lộ như một con búp bê vĩ đại, làn da Hảo ánh lên như có lân tinh, tóc xõa lòa xòa, hai vai tròn lẳn. Hảo thẹn, nhắm mắt, bàn tay mảnh khảnh rụt rè che ngực đang nhấp nhô theo nhịp thở. Trăng như đồng lõa, bao phủ toàn thân Hảo, ngời ngời sáng man dại. Đức mê mẩn chiêm ngưỡng, vuốt ve, hít thở hương đầu mùa trong sạch trinh nguyên, cảm nhận được sự run rẩy của toàn thân Hảo. Khi bàn tay Đức đi dần xuống dưới, Hảo co rúm, hoảng hốt giữ bàn tay Đức lại, rồi bất chợt kéo chàng đè lên người, níu vai Đức dìm xuống.

Đêm rơi vào khoảng đen thăm thẳm, bao che những đòi hỏi thôi thúc bị đè nén bấy lâu, dồn dập theo từng cơn vồ vập, từng hồi cọ xát, và từng cơn rướn co quắp.

Đức đê mê, ngụp lặn trong khoái cảm đến rợn người, dâng cao chất ngất, thúc đẩy sự chiếm đoạt trọn vẹn, đến tận cùng.

(Trích đoạn truyện Duyên Kiếp, Chương 8: Lưới Tình, http://www.authorkhanha.com/thuyha12a2)

 

 GA VẮNG

Trời đầu sáng sương giăng mờ mờ tối,

Thân ghì thân truyền hơi ấm cho nhau,

Gót giầy khua trên phố vắng nhạt màu,

Đèn hiu hắt bóng đổ dài trước mặt.

 

Chơ vơ sân ga, lơ thơ vài cặp, (*)

Môi tìm môi, ôm chặt, khẽ thì thầm,

Biệt ly nào không chĩu nặng trong tâm,

Mai xa cách, nhớ nhung buồn muôn nỗi.

 

Tiếng còi tàu rú từng hồi đau nhói,

Toa tàu lê chầm chậm, đỗ bên ga,

Cuống quít môi hôn, níu kéo thời gian,

Anh đi nhé, em về ngoan sách vở.

 

Lệ đoanh tròng, nuốt vào lòng tiếng thở,

Làm sao qua những ngày tháng cô đơn,

Anh đi rồi, nhớ gắng viết thư luôn,

Mong mỏi lắm từng ngày chờ thư đến.

 

Tiếng còi tàu lại rú lên nhức nhối,

Toa tàu lê chầm chậm khỏi sân ga,

Tay vẫy đưa dần mất hút nhạt nhòa,

Em thút thít, lệ sa không ai thấm.

 

Lối đi về ai ủ người, dìu bước,

Bóng không còn đổ vướng gót chân em.

Tiếng còi vang, tim mãi nhói buốt thêm,

Ơi thèm quá, tìm nụ hôn mê mải.

 

(*) Sân ga ở Ohio University

 

Nguyễn P. Thúy

 

 

 

 

 

DUYÊN KIẾP

Tóc óng mượt bờ vai,

Mắt nai buồn man mác,

Mảnh mai dáng trang đài,

Thương em, anh si dại một đời.

 

Tàu bay xuyên mây trời,

Nhớ áo dài em trắng,

E ấp mộng đầu đời,

Có thấy mình áo cưới chung đôi.

 

Sang thăm em năm mới,

Tặng cành hoa mai rừng,

Hái miền đồi núi vắng,

Chúc em xuân này thắm mộng đầu.

 

Em ngập ngừng đôi câu,

Rồi e lệ cúi đầu,

Vân vê tà áo mới,

Yêu đam mê, sôi nổi vì em.

 

Ba mươi tháng Tư đen,

Thời cuộc đổi qua đêm,

Sài Gòn giờ dẫy chết,

Hận lòng anh ly biệt người thương.

 

Đàn chim sắt lạc đường,

Lao mình ra đại dương,

Từng chiếc xô xuống biển,

Cô đơn giữa chiến hạm đầy người.

 

Ngày qua ngày tiếp nối,

Gia đình đã mất rồi,

Bóng em giờ biền biệt,

Từng đêm anh tha thiết nhớ nhung.

 

Nơi đất khách tạm dung,

Cầu mong được trùng phùng,

Kiếp này chưa tròn mộng,

Hẹn kiếp sau ta sống trọn đời.

 

 

Nguyễn P. Thúy, 8/17/2004

 

 

 

Đi Tu

Thầy ơi, con muốn đi tu,

Chuyện đời muốn dứt, vào chùa làm tăng.

Thầy đưa con mắt liếc ngang,

Miệng thầy tủm tỉm: niết bàn còn xa.

Con còn nặng nợ ta bà,

Tu chùa chưa được, về nhà tu thân.

Con còn chưa dứt tình trần,

Hỉ nộ, ái ố nên dần tránh xa.

Thầy ơi, khó nhất tu gia,

Con mà tu được, đâu xa Niết bàn!

 

 

Nguyễn P. Thúy

 

 

 

 

 

Em Bé Việt Nam

Em co ro ngồi dưới lòng đại lộ,

Áo mong manh che chở tấm thân gầy.

Tóc còn xanh sao mang nặng đắng cay,

Đời vùi dập, đâu nhà, đâu thân quyến?

Mắt em buồn, khẩn cầu, mưa át tiếng,

“Nhờ chút tình thương hại giữa đồng bào.

Giúp em đi, cảnh cơ cực đói nghèo,

Trời phù hộ ông bà nhiều phú quý”.

Có ai nghe những lời em năn nỉ,

Có ai nhìn em bé bỏng bơ vơ.

Mà dòng đời vẫn xuôi ngược thờ ơ,

Người qua lại im lìm như tượng đá.

Ôi quê hương, dân tôi sao vất vả,

Hòa bình rồi sao lắm cảnh thương tâm!

 

 

Nguyễn P. Thúy

 

 

 Giữa Đời Bơ Vơ

Đêm mộng mị, nhớ ngày xa xưa ấy,

Chồng chất bóng hình, thân ái vô cùng, 

Ta ở đâu mà mê tỉnh chập chùng, 

Chừng tàn giấc, tủi hờn tuôn lệ nhớ.

 

Việt Nam ơi, bao nhiêu năm không ở, 

Con đường xưa vẫn gợi nét thân quen, 

Trời vẫn xanh màu trong vắt êm đềm, 

Nhưng lạ cảnh, lạ tên đường, cách sống. 

Giọng ai nói trọ trẹ trong âm hưởng, 

Người thân tình đối xử tưởng người dưng, 

Những món ăn không thích hợp, lạ lùng, 

Lẻ loi quá dù chung dòng máu Việt! 

Ta: Mỹ ư? Dân da vàng, mũi tẹt,

Dù có thay đổi nét cũng nhận ra,

Nhìn vào nhà, nghe giọng, thấy món ăn,  

Đã cho biết cội nguồn dân tứ xứ.  

 

Có những lúc lòng chĩu buồn, thổn thức, 

Giữa cuộc đời luôn ấm ức: là ai? 

Tủi thân bơ vơ, lạc lõng, u hoài, 

Hằng tìm mãi một quê nhà yêu dấu.

 

Việt Nam ơi, nơi chôn nhau cắt rốn, 

Dẫu đã xa xin vẫn chọn là quê, 

Trong giấc mơ, tiềm thức vẫn quay về, 

Vẫn ao ước vùi thân trên đất mẹ.  

 

Nguyễn P. Thúy 

 

 

 

 GIẾT ĐỂ CỨU

Mỗi lần có mưa to, gió lớn, hay có nhiều tuyết là chỗ ở của Phượng bị cúp điện. Hôm nay trời cuối thu se lạnh, giông bão, mưa rả rích từ sáng đến giờ, cũng không vượt ra ngoài tiền lệ cúp điện!

Đã có sẵn thức ăn dư từ hôm qua, Phượng dùng cái bếp dầu hôi (camping stove) để nấu thêm cơm và canh. Cả nhà đang ngồi ăn cơm tối trong ánh nến mù mờ, chợt nghe tiếng chim kêu oang oác, tiếng đập vào cửa sổ phành phạch. Phượng kéo màn nhìn ra ngoài, hình như có cánh chim đập loạn xạ vào cửa kính. Chồng Phượng đoán con chim tha mồi về bị gió thổi mạnh, lao vào cửa kính. Nhưng Mẹ Phượng nghĩ chắc có chuyện gì đây vì thấy tiếng đập liên hồi. Mọi người rời bàn ăn, đến bên cửa sổ, chong mắt nhìn qua cửa kính và màn đêm tối om.

Gần bên cửa sổ là giàn hoa hồng, mấy con chim Robin có lông bụng màu đỏ cam rất đẹp thường tha rơm, xây tổ, đẻ con. Phượng đã từng thấy bốn cái trứng chim màu xanh nước biển (blue) xinh xắn nằm gọn trong tổ, những lần chim trống, mái thay phiên nhau ấp trứng, tha mồi, và những con chim vừa nở, lông măng thưa thớt, ướt nhèm nhẹp, rất háu ăn, luôn miệng kêu chíp chíp và há mỏ thật lớn giành ăn.

Phượng thấy con chim đang bay loạn xạ quanh giàn hồng. Mẹ Phượng chợt kêu lên: “Thôi chết rồi! mấy con chim non chắc bị rắn ăn”. Chồng Phượng vội vã cầm đèn pin mở cửa chạy ra sân. Phượng dặn con ở trong nhà với bà Ngoại rồi chạy theo chồng.

Con chim trống (chắc thế) đập cánh phần phật, lượn quanh giàn hồng, thỉnh thoảng lại lao đầu xuống tổ chim, rồi bay vút lên kêu thảm thiết. Chồng Phượng chiếu đèn pin vào đúng chỗ đó thì thấy một con rắn (garden snake), đang quấn quanh giàn hồng, ngóc đầu vào ổ chim.  Con chim mái còn nằm trong tổ, kêu oang oác, đập cánh lia lịa. Dưới gốc hồng một con rắn khác (chắc là một cặp) đang trườn lên, thấy có người, có ánh đèn sáng loang loáng, vội lủi nhanh, trốn dưới gầm heat pump gần đấy.

Con chim mái cố xòe cánh che chở đám chim non, cổ ngóc cao thách thức, rồi nhắm đầu con rắn mà mổ. Hai con chim trống, mái hợp sức chống trả mãnh liệt, nhưng con rắn vẫn gan lì nuốt chửng con chim non, rồi táp luôn con chim mái.  Chồng Phượng đưa đèn pin cho Phượng, rồi chụp cành cây gẫy khá to gần đấy đập con rắn túi bụi. Con rắn gồng mình chịu đòn, thân co rút lại dưới những nhát đập tàn bạo nhưng vẫn không chịu nhả con chim mái. Chồng Phượng điên tiết, mím môi, đập nhanh hơn, mạnh mẽ hơn.  Phượng thấy đau lòng quá, thương cả chim lẫn rắn, nhưng không biết phải làm sao.

Sau một hồi bị đòn đau, con rắn không chịu nổi nữa, rớt khỏi giàn hồng, ngã lăn ra sân, bất động, miệng còn mắc kẹt con chim mái với đôi cánh xòe rộng nhưng cái đầu đã lả nghiêng.  Chồng Phượng hai tay hai khúc cây, vừa đập miệng rắn vừa cố nạy con chim ra.  Cuối cùng thì con rắn nhả con chim mái ra khỏi miệng. Chồng Phượng đụng nhẹ khúc cây vào chim mái, không thấy nhúc nhích, giận dữ đập con rắn thêm vài nhát chí tử. Phượng chiếu đèn pin vào tổ chim, chỉ còn sự im lặng của chết chóc. Chồng Phượng khều tổ chim vài lần, vẫn im lìm, chắc là mấy con chim non đã bị nuốt hoặc đã chết trong tổ.

Con chim trống ủ rũ đậu nơi cành cây gần đấy, thỉnh thoảng kêu chíp chíp như lúc gọi con mớm mồi. Gọi một hồi không thấy đám chim con ríu rít, tuyệt vọng bay đi. Chồng Phượng tìm đủ cách để xua con rắn kia ra khỏi heat pump, lấy cái que dài đâm sâu vào trong gầm cái heat pump, đụng phải nó nhiều lần nhưng nó nhất định cố thủ không ra. Chồng Phượng đành tha cho nó để đi thu dọn chiến trường, mang xác con rắn ném lên trên đồi và gói xác con chim mái đem chôn.

Sáng hôm sau, đã thấy con chim trống lảng vảng gần đấy, tiếng kêu bi ai. Chồng Phượng bắc thang lên quan sát tổ chim, lông chim vương vãi khắp nơi che phủ 2 xác chim con xuội lơ, đầu nghẻo, dụi vào trong cánh. Chồng Phượng gỡ tổ xuống đem chôn cùng chỗ với con chim mái. Còn con rắn đã bò đi đâu mất.

Những ngày tiếp theo, cứ thấy con chim trống bay lượn mấy vòng quanh giàn hồng tìm tổ cũ, gọi con, nhưng chẳng còn gì cả, nó buồn bã đậu trên cái cọc trên đồi, ngơ ngác nhìn quanh rồi vút bay đi, dần dà không thấy nó trở về nữa.

Năm sau lại có đôi chim Robin khác kéo đến làm tổ mới. Cả nhà Phượng để ý canh chừng xem con rắn kia có trở lại phá tổ chim nữa không, nhưng không thấy rắn, đàn chim an toàn, vô sự! Từ đấy, bao cặp chim đã đưa nhau đến đây chăm chút tha từng cọng rơm rác về đắp tổ, cái tổ được dùng đi dùng lại mỗi lúc thêm to, thêm dầy, vẫn có những con chim non đỏ hỏn, vẫn những cái mỏ há to háu ăn, vẫn bình yên, hạnh phúc. Con rắn mất bạn đời, bỏ đi từ dạo ấy, không hề trở lại.

Phượng biết chồng chỉ muốn cứu con chim mái chứ không có ý giết con rắn, không ngờ cả chim lẫn rắn đều chết. Phượng thắc mắc hoài, không biết chuyện mình giết vật để cứu vật là đúng hay sai.

Nguyễn P. Thúy, 4/18/2011

 

 

THE BLACK APRIL

My child, ever you wonder why

April is a mourning time.

Wounding our souls

That have never healed since the day the Republic of Vietnam died.

 

Why did you risk your life and leave everything behind?

Listen my child, here’s why

The Commies: the Red Devils of our time. (1)

They took the North and forced their way

Into the South and committed a horrendous human crime.

The cost of war and casualties,

No remorse!

They desperately wanted victory.

We know their true color, lies, and cruelty,

That’s why we fled to the South in 1954

As the country was divided by the Geneva treaty.

For 20 years, the North had lived in poverty,

Uncivilized and out of reality.

Men and women perished along Truong Son mountain war trail.

The Commies never stopped their desire to dominate the Southeast Asian countries.

For 20 years, as frontier of freedom,

We protected the people and the country we loved.

We won the battles but not the war,

Because the allies abandoned us for their political goals.

30 April, 1975 the bitter end finally came,

The country reunited but the people of South Vietnam fled again.

They rushed out to the South Sea seeking refuge, (2)

To escape the revenge and avoid life with the Commies.

People again suffered and were broken.

Education camp was just a disguised prison.

The small boats swamped the sea.

“Run, run, run …

By all means we must leave.”

Hundreds of thousands reached shore, hundreds of thousands perished.

The world was touched, “Boat People” in dire need.

The tragedy was unprecedented in human kind,

The Commies did their best to rewrite history and hide their crimes.

Nothing could hide the truth.

The world has finally understood.

Down and out: the Red Devils.

If the people could leave, they all would!

 

Now you have freedom in your foster land,

Why continue to protest against the Commies gang?

Listen my child,

We must help our countrymen.

Rid the Commies! The Red Devils must be condemned!

People could not speak, we have to,

People could not see, we have to,

People could not protest, we have to,

For the love of our countrymen, we must do.

To the day Vietnam is liberated,

The people have human rights and the Commies are defeated.

April will be a month of celebration,

For a long lasting reunification!

 

Nguyễn P. Thúy, April 20, 2010

 

 

(1) The Commies = Red Devils = Communists

(2) The South China Sea should be correctly called the South Sea to avoid any mistaken ownership by China.

Last Updated on Friday, 24 January 2014 18:41
 

Sổ Vàng

An-Lộc Foundation