Font Size

Profile

Menu Style

Cpanel
Lịch sử tiểu thuyết: Động Đình Hồ Ngoại Sử 85 PDF Print E-mail
Written by Editor   
Friday, 19 May 2017 09:24

Lịch sử tiểu thuyết: ĐỘNG ĐÌNH HỒ NGOẠI SỬ kỳ 85.

LTS.- Tác giả Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ hiện là Bác Sĩ Giám Đốc Trung Quốc Sự Vụ tại Viện Pháp-Á (IFA), Thành Viên trong Y Sĩ Đoàn Pháp Quốc. Ông là người cầm bút nổi tiếng trước và sau năm 1975, đã ấn hành được hơn 100 ngàn trang sách về lịch sử và y học. Sau đây là một phần trích từ bộ lịch sử tiểu thuyết “Động Đình Hồ Ngoại Sử”:

HỒI THỨ TÁM MƯƠI LĂM.

Một là báo phục, hai là báo phương.

(Đại-Nam quốc sử diễn ca)

Lão bà không nhân nhượng, ngồi xuống ghế, cầm bánh ăn. Ăn hết đĩa bánh, bà tự rót nước trà, uống hết một bình. Uống xong bà vỗ hai tay vào nhau, hỏi Phương-Dung:

_ Con bé ngạnh đầu kia! Ngươi là Tể tướng Lĩnh-Nam trăm sự của Xã-tắc đều do người cả. Có đúng thế không ?

_ Quả như bà nói.

_ Ngươi ra lệnh khuyến khích phá đất hoang làm ruộng, trồng dâu, nuôi tằm. Được! Ngươi treo thưởng cho ai trồng được thửa ruộng có số thu cao! Được! Ngươi khuyến khích nuôi cá, lợn, gà, trâu, bò. Được. Song ngươi ngu quá!

Phương-Dung thấy lão nói năng ngỗ nghịch. Nhưng bà thấy lão xử dụng võ công Long-biên đến trình độ ngang với mình, có thể bà là tiền bối cùng môn hộ, nên bà nhũn nhặn:

_ Tiểu bối xin rửa tai nghe lời lão bà.

Lão cười khạnh khạch:

_ Ngươi ban lệnh, cứ tưởng dân chúng ai cũng như ngươi. Ngươi muốn nước giàu phải không? Nhưng ngươi có biết rằng dân chúng khá giả một chút, họ sinh lười, không làm việc nữa. Thành ra đất Lĩnh-Nam cũng không hơn Hán là bao. Ta hỏi ngươi: Ngươi khuyến khích họ nuôi gà, nuôi lợn, nuôi trâu bò. Dân chúng khá một chút, có trứng gà họ mang ra ăn, họ giết lợn sữa, họ giết nghé tơ ăn... thì làm sao mà giàu được?

Phương-Dung tỉnh ngộ:

_ Tiểu bối ngu tối, không nghĩ đến. Ngay ngày mai, tiểu bối sẽ ban lệnh: Không được ăn trứng gà, vịt trong vòng một năm. Không được giết lợn sữa, giết nghé.

Lão già lại cười:

_ Ta còn phải dạy dỗ mi nhiều nữa. Mi truyền lệnh: Triều đình khuyến khích gia tăng nhân xuất. Chỉ khuyến khích thôi! Thì ai nghe. Giá như một vợ, một chồng, đẻ liền năm đứa con, đôi vợ chồng ấy, với bầy con sẽ ăn cỏ mà sống hay sao?

Phương-Dung tỉnh ngộ:

_ Hậu bối sẽ ban lệnh: Đàn bà có mang từ bảy tháng, cho đến sau khi sinh con sáu tháng, được trợ cấp gạo, vải. Nhà nào có trẻ con dưới mười ba tuổi, mà cầy dưới một mẫu ruộng thì không phải nộp thuế. Nhà nào một vợ một chồng, sinh được năm con., những đứa trẻ ấy, lạc hầu phải xuất kho nuôi nấng.

Thình lình lão bà xuất trảo tấn công Chu Bá. Bà đang nói truyện, ra tay cực kỳ thần tốc. Chu Bá không phản ứng kịp. Ông nhảy lui về sau hai bước, phóng Lĩnh-nam chỉ đỡ chưởng của bà. Song áo ông đã bị rách hở cả vai lẫn ngực.

Lại đến lượt lão bà la lên một tiếng kinh ngạc:

_ Đúng! Ngươi họ Chu song tên không phải là Bá mà là Đức-Anh. Ngươi tên Chu Đức-Anh.

Chu Bá kinh ngạc. Ông lùi lại:

_ Xin lão bá dạy cho ít lời.

Lão bà ngồi xuống ghế cười nhạt:

_ Còn dạy gì nữa. Ngươi lại đây ta nói cho mà nghe.

Chu-Bá đến bên cạnh lão, nhưng ông ớn lão ra tay bất thần. Ông vận công đề phòng. Bà ghé tai nói nhỏ mấy câu. Chu Bá lắc đầu:

_ Tôi không tin.

Lão bà cười nhạt:

_ Ngươi không tin ư? Ta nói ra cũng không sao. Khi ngươi được một tuổi. Ngươi bị chó cắn vào vai trái. Đến nay thẹo vẫn còn. Giữa vú trái ngươi có mụn nốt ruồi đỏ. Như vậy đủ chưa? Ngươi là cháu ta. Ta là cô ngươi. Ngươi giống anh ta như đúc.

Chu Bá kinh hoàng, đến trước lão bà quì gối:

_ Cháu kính cẩn ra mắt cô mẫu.

Lão bà, để cho Chu Bá lạy đủ bốn lạy. Bà ôm đầu Chu Bá khóc:

_ Cháu ơi! Cô cứ tưởng cháu chết rồi! Không ngờ cháu còn sống trên thế gian này. Giòng họ Chu của ta không tuyệt tự.

Từ hồi có trí nhớ, mối khổ tâm, đau đớn trong lòng Chu Bá, dằn vặt ông, vì ông không biết rõ nguồn gốc mình: Cha, mẹ, họ hàng, sinh quán ở đâu. Ông ở với một nhũ mẫu mù lòa, câm điếc. Bà không biết chữ. Bà làm lụng cực kỳ vất vả để nuôi ông. Hàng xóm cho biết: Hồi ông được ba tuổi, nhũ mẫu bồng ông đến trang Thái-hà xin cư ngụ. Bà bị thương tích đầy người. Lê Đạo-Sinh thương tình, cho thầy thuốc cứu trị. Bà không chết, song trở thành tàn tật. Bà được trao cho việc đan chiếu, đan rổ, sống qua ngày. Đến khi Chu Bá lớn lên, học hành thông minh. Lê Đạo-Sinh thu làm đệ tử. Ông còn được Lê Đạo Sinh gả con gái cho. Từ đấy ông sống một cuộc đời giàu có, sang trọng. Song nỗi khổ tâm về xuất thân, vẫn không được giải. Có lần Lê Đạo-Sinh úp mở cho ông biết: Cha mẹ ông trước đây, từng khởi nghĩa phục Việt, bị thất bại, cả hai đều tử trận. Ông hỏi thêm, Lê lắc đầu, trả lời không biết.

Trước kia thân phụ Chu Bá xuất thân là một lạc hầu, có chí lớn. Năm Chu Bá được ba tuổi. Ông cùng vợ, và em gái tên Chu Tái-Kênh khởi binh phản Hán phục Việt. Được nửa năm sau, nghĩa quân bị đánh tan. Song thân Chu Bá chết tại trận. Tái-Kênh vừa chiến đấu, vừa ôm Chu Bá chạy trốn. Quân Hán đuổi theo bao vây trùng trùng điệp điệp. Tái-Kênh chiến đấu cho đến lúc ngã xuống không biết gì nữa.

Khi nàng tỉnh dậy, thì thấy mình nằm trên giường, người đầy vải băng bó. Một trung niên nam tử xuất hiện bưng nước cho nàng uống. Nàng hỏi:

_ Đây là đâu? Cháu tôi đâu?

Trung niên nam tử xưng mình họ Trần tên Đại-Sinh. Ông cho biết, chính ông đã xung vào vòng vây quân Hán, cứu được Tái-Kênh ra. Còn đứa cháu. Trong lúc chiến đấu, bị thất lạc mất.

Tái-Kênh dưỡng bệnh ở trang ấp Trần Đại-Sinh ít lâu sau thì khỏi. Nhà tan, cửa nát, nàng không còn chỗ dung thân. Trần Đại-Sinh tỏ ý lưu nàng ở lại trang của ông. Hai người cách nhau đến hai mươi tuổi. Trần Đại-Sinh đã đến tuổi bốn mươi. Còn Tái-Kênh mới ở tuổi hai mươi. Ông chưa cưới vợ. Hai người hàng ngày trao đổi võ công. Bấy giờ Trần Đại-Sinh mới biết nàng thuộc phái Long-biên. Chỉ một năm, hai người thương yêu nhau. Họ thành vợ chồng. Một năm sau, Tái-Kênh sinh ra đứa con gái. Nàng đặt tên là Trần Thiếu-Lan.

Hai vợ chồng sống bên nhau suốt hai mươi năm đầm ấm. Năm Thiếu-Lan hai mươi tuổi. Ông bà gả cho đệ tử phái Long-biên tên Trần Anh. Năm sau Thiếu-Lan sinh đôi, đẻ ra Quỳnh-Hoa, Quế-Hoa. Hai vợ chồng Trần Anh là người cóù chí lớn. Ông bà liên lạc với anh hùng thiên hạ, định khởi binh phản Hán phục Việt. Trần Đại-Sinh khuyên không nên, vì chưa đến lúc, phải ẩn nhẫn, chờ khi tiềm lực đủ, hãy phất cờ. Còn như khởi binh sớm chỉ thêm mất mạng vô ích. Tái-Kênh không chịu, đòi khởi binh ngay. Thế là hai vợ chồng Trần Đại-Sinh bất hòa.

Ông khuyên bà:

_ Phàm muốn khởi binh làm đại sự, cần kết hợp anh hùng thiên hạ. Người người đồng tâm, mới hy vọng thành công. Nay nhà mình, tôi không có trang ấp. Lực lượng của ta chỉ có một trang của Trần Anh, tráng đinh chưa quá ngàn người. Nếu như ta bất thần khởi binh, giỏi lắm chỉ đủ sức đánh chiếm một huyện. Sau đó quân Hán các nơi kéo đến, sức người đã không đủ chống giặc, còn lương thảo không đủ nuôi quân trong ba tháng. Thế mà ta khởi binh thì tan nhà cửa nát vô ích mà thôi.

Tái-Kênh cương quyết:

_ Cách đây hai mươi năm, anh tôi khởi binh. Tuy không thành công, cũng đốt được ngọn lửa phục quốc lên. Nay Tích Quang đang núp sau đại nghĩa: Đem văn hiến Trung-nguyên dạy dỗ man di mọi rợ. Ông không thấy dân chúng cúi đầu ca tụng chúng như bậc thánh đó sao? Tôi muốn khởi binh, truyền hịch kể tội y, lột mặt nạ giả nhân giả nghĩa, mưu Hán hóa người Việt. Ông không muốn giúp tôi với con cũng được. Ông nên lánh mặt đi. Chúng tôi nguyện đem cái chết đền ơn Quốc-tổ.

Bà cầm thanh kiếm bẻ làm đôi thề:

_ Nếu tôi thành công. Ông đừng vác mặt về nhìn mẹ con chúng tôi. Ngược lại, tôi thất bại, dĩ nhiên tôi chết. Ông cũng không cần thương xót, làm gì.

Thấy vợ, con gái, con rể nhất quyết khởi binh. Ông rủ Nguyễn Phan, dẫn thêm Đặng Thi-Sách, du ngoạn Trung-nguyên, lánh mặt. Ở nhà Tái-Kênh cùng con rể, con gái khởi binh. Lúc đầu đánh chiếm được hai huyện. Trong khi đánh chiếm huyện Bắc-đái, nghĩa quân bị bại. Trần Anh bị giết tại trận. Tái-Kênh, Trần Thiếu-Lan bị bắt. Thiếu-Lan có nhan sắc, bị thái thú Tích Quang gửi sang Trung-nguyên cống cho Xích-My. Còn Chu Tái-Kênh bị đem chém. Trước hôm bà bị hành hình, Lê Đạo-Sinh vào ngục thăm bà. Y khóc lóc thảm thiết rằng: Y làm đô úy Giao-chỉ, chẳng qua để giúp đỡ người Việt. Bây giờ y không biết làm cách nào cứu bà. Cuối cùng, giữa lúc bà tuyệt vọng, y đề nghị, sẽ đem người vào thế mạng chịu chết cho bà. Còn bà, y khuyên không nên rời Thái-hà trang. Y dành cho bà một khu nhà biệt lập, cấp cho bà hai thị nữ hầu hạ.

Bản tính Tái-Kênh cương cường, can đảm. Nhưng sau khi khởi nghĩa bị thất bại, nghĩa quân tan vỡ, con rể chết, con gái bị lưu đày, mình bị chết chém. May được Lê Đạo-Sinh cứu sống, bà mất hết chí khí, hận thù đời.

Nghe tin Trần Đại-Sinh từ Trung-nguyên về, bà cũng không muốn gặp mặt. Trần Đại-Sinh tưởng vợ bị chết rồi. Ông không thiết tục huyền, ngao du thiên hạ lấy y đạo cứu dân.

Chu Tái-Kênh ẩn ở trang Thái-hà. Thỉnh thoảng Lê Đạo-Sinh tới thăm bà. Y ngỏ với bà rằng: Y có chí lớn, muốn phục hồi Lĩnh-Nam. Y đang xây dựng lực lượng, kết nạp anh hùng. Bà hăm hở giúp y. Y khuyên bà nên cải trang thành một người Mường, đi các trang ấp huấn luyện, tổ chức tráng đinh cho y. Bà vui vẻ làm việc. Lê Đạo-Sinh thiết lập một trang trại, trong vùng rừng núi Giao-chỉ, giao cho bà trông coi. Y truyền tất cả trang ấp của y, của học trò y, gửi tráng đinh về cho bà huấn luyện. Vì vậy, tráng đinh thuộc sáu mươi hai trang ấp dưới quyền Lê Đạo-Sinh và đệ tử rất thiện chiến, hùng mạnh như các đội quân chuyên nghiệp. Đệ tử Lê Đạo-Sinh ít được gặp bà. Họ chỉ biết bà có tên mẹ Chu. Ai cũng phải gọi bà bằng mẹ hết.

Trong khi ở trên rừng, dạy tráng đinh, cô độc, không người tâm sự, bao nhiêu oán hờn chồng chất, bà đổ lên đầu chồng. Bà cho rằng vì chồng không giúp đỡ, bà mới thất bại. Bà quyết chí luyện võ, đợi một mai Lê Đạo-Sinh khởi binh, chính thân bà sẽ cầm quân đánh giặc. Đuổi giặc rồi, bà dùng võ công đánh bại Trần Đại-Sinh, để hạ nhục ông.

Có lần bà tìm được tung tích ông. Đêm, bà bịt mặt tấn công ông. Đấu với nhau được mười chưởng. Bà mới biết võ công mình còn kém ông xa. Từ thất bại, muốn thành công, bà đi vào đường tà. Bà nghĩ: Lê Đạo-Sinh võ công cao cường. Nếu bà có được cuốn sách chép bí quyết của y, có thể thắng chồng. Nghĩ là làm. Bà giả đau, vì khí hậu trên rừng không hợp với bà. Lê Đạo-Sinh tạm cử người thay thế bà coi trường luyện quân. Y đem bà về trang Thái-hà dưỡng bệnh. Y không đề phòng, bị bà lấy trộm mật thư, học hết võ công của y. Sau ba năm luyện võ, bà bí mật trở lại chỗ Khất đại-phu ở, tấn công ông. Song cũng chỉ được trăm chiêu bà bị bại. Lần này, Khất đại phu kinh ngạc không ít. Ông cố moi óc xem, trong đời, ông đã gây thù với ai, mà ba năm trước một người thân hình nhỏ bé, rõ ra dáng phụ nữ, đến tấn công ông, không nói một lời. Sau ba năm, trở lại, với bản lĩnh không thua ông làm bao. Lạ một điều, võ công người này lại là võ công Tản-Viên? Tuy thắng đối thủ, song ông không nỡ hại. Cũng không nỡ gỡ khăn bịt mặt ra. Ông thả cho đi.

Chu Tái-Kênh trở về Thái-hà trang, quyết tâm luyện võ, mong trả thù Khất đại-phu.

Thời gian Đào Kỳ bị làm nô bộc ở trang Thái-hà, là thời gian bà đang mưu phục thù. Bà nghĩ: Muốn thắng Trần Đại-Sinh, cần học nội công âm nhu phái Long-biên. Đêm đêm bà rình ở nhà tù, đợi Nguyễn Phan cung khai bí quyết luyện công, lập tức bà lấy cắp luyện. Song bà không thành công.

Cho đến khi Đào Kỳ được Nguyễn Phan truyền nội công âm nhu, cùng kiếm trấn môn phái Long-biên. Bà núp nghe trộm, từ đó, bà luyện được kiếm pháp Long-biên. Có điều bà núp xa nghe, không được nhìn tận mắt các chiêu thức, thành ra kiếm pháp của bà hơi khác kiếm pháp nguyên thủy. Vì vậy đấu với Phương-Dung, tuy bà có nội công cao hơn, kinh nghiệm nhiều, mà không thắng được đối thủ.

Hàng đêm, bà theo dõi Đào Kỳ, do đó bà biết chỗ dấu các thẻ đồng bộ Văn lang võ học kỳ thư. Bà đào lên, học thuộc các câu quyết rồi lại trả về chỗ cũ. Vì vậy Đào Kỳ không biết gì cả. Tuy bà luyện được đủ ba mươi sáu chiêu Phục-ngưu thần chưởng, cả cương lẫn nhu. Song bản lĩnh của bà không bằng Đào Kỳ, vì Đào Kỳ phát minh ra lối qui liễm chân khí âm, dương, hợp làm một, công lực ông cao không biết đâu mà lường.

Chu Tái-Kênh luyện xong bộ Văn lang võ học kỳ thư, bà đi tìm Khất đại phu trả thù. Thì ông đang trên đường tòng chinh Trung-nguyên. Bà lặn lội tới Dương-bình quan, đúng lúc ông đi Lạc-dương với Đào Kỳ. Bà tìm tới Lạc-dương ông lại trở về Lĩnh-Nam. Bà trở về Lĩnh-Nam, thấy Lĩnh-Nam phục hồi, Trưng Đế phong các công thần, tổ chức Lĩnh-Nam thành một nước thái bình. Dân chúng sung sướng. Bà cho rằng Trưng Đế thành công vì nhờ chồng mình giúp. Uất khí, oán hờn chồng chất, bà tìm chồng khắp nơi, không thấy. Bà nghĩ đến phá hoàng cung Mê-Linh cho bõ ghét. Không ngờ khi xuất thủ, kiếm thuật bà thua Phương-Dung, chưởng lực bà thua Trần-Năng.

Chu Tái-Kênh hỏi Chu Bá:

_ Sư phụ cháu đâu? Ta phải giết y để trả thù.

Chu Bá quì xuống đất lạy tám lạy:

_ Cô xa cháu năm cháu ba tuổi. Đến nay cháu đã bốn mươi lăm tuổi, mới trùng phùng. Sư phụ cháu vốn ít nói, tính tình hiền hậu. Ngày cô khởi binh, người không hưởng ứng, vì thấy khởi binh chỉ đưa đến cái chết cho hàng mấy ngàn tráng đinh, người mới cản trở, không chịu hợp tác. Hôm người qua Trường-sa, đến bờ sông Tương-giang, viếng mộ biểu muội Trần Thiếu-Lan, người khóc đến chảy máu mắt.

Chu Tái-Kênh nhảy lên:

_ Sao? Sao? Tại sao mộ Thiếu-Lan lại ở hồ Động-đình?

Trưng Nhị tường thuật tỷ mỉ cuộc đời thảm thiết của Trần Thiếu-Lan cho bà nghe. Bà oà lên khóc nói:

_ Thì ra con tôi vẫn còn sống! Hai đứa cháu ngoại vẫn còn. Hỡi ơi! Suốt mấy chục năm qua, tôi ẩn ở trên rừng, trên núi, không biết tin tức gì cả.

Bà bảo Chu Bá:

_ Cháu! Cháu với cô phải đi Trung-nguyên, giết con ác phụ Mã thái hậu, tìm vợ chồng Phan Anh, Trần Nghi-Gia giết đi, để trả thù cho em. Đi! Cô cháu mình đi ngay bây giờ.

Trần Năng đến trước mặt Chu Tái-Kênh quì xuống làm lễ:

_ Đệ tử Trần Năng, xin tham kiến sư nương.

Chu Tái-Kênh đỡ Trần Năng dậy:

_ Được, ta vì hai đứa bay! Tha cho sư phụ bay!

Phương-Dung cùng Đào Kỳ đã được nghe Khất đại-phu kể về người vợ tên Chu Tái-Kênh. Vì nhiệt thành yêu nước, mà hóa ra con người kỳ quặc. Biết vợ còn sống, ông lặn lội khắp nơi tìm không thấy, không ngờ, bây giờ bà xuất hiện tại đây.

Phương-Dung nghĩ thầm:

_ Bà cụ này võ công kinh nhân. Tài năng mẫn tiệp. Chỉ vì yêu nước, nóng lòng với dân tộc mà thành quái nhân. Ta hãy khơi lòng yêu nước của bà. Hầu dùng bà còn hơn để bà bất mãn.

Phương-Dung kính cẩn thưa:

_ Lão bá! Đất nước được phục hồi, do công lao của toàn thể dân Lĩnh-Nam, chứ không phải của Trưng sư tỷ! Hay của bất cứ ai. Nếu không có cuộc khởi nghĩa của song thân Chu sư thúc thì không có cuộc khởi nghĩa của bà với Trần Anh, Trần Thiếu-Lan. Không có cuộc khởi nghĩa của bà, e ngọn đuốc phục quốc tắt ngấm, chính vì nhờ lão bá, khiến anh hùng ngụt lửa yêu nước, nay Lĩnh-Nam mới được phục hồi. Hôm nay lão bá lại quang lâm, dạy dỗ cho cháu nhiều điều. Cháu xin đa tạ lão bá.

Trưng Nhị tiếp:

_ Hai sư muội Quế-Hoa, Quỳnh-Hoa chẳng là cháu ngoại của lão bá đấy ư? Hai sư muội đang làm đại tướng, trọng nhậm biên cương. Lão bá là bà ngoại, không lẽ không bằng các cháu ư?

Chu Tái Kênh mở to mắt nhìn Phương-Dung, Trưng Nhị:

_ Mấy con lỏi này, biết lẽ phải trái, không giống lão ăn mày. Ta phục các ngươi. Ừ, ta thuộc lớp người bà nội, bà ngoại các ngươi, không lẽ thua các ngươi. Ta phải làm điều gì thực vĩ đại mới được. Thôi, bảo Đào Kỳ giao ấn Đại tư-mã cho ta. Ta đánh lên Lạc-dương chiếm Trung-nguyên cho hả giận.

Phương-Dung biết lời khích của mình đã thành công, bà đưa mắt nhìn Trưng Nhị:

Trưng Nhị chắp tay kính cẩn:

_ Có một việc, tất cả chúng cháu đều không làm được. Trên đời này chỉ Thái sư thúc Khất đại phu làm được mà thôi. Cháu nghĩ, lão bá chưa chắc đã làm được. Không biết bây giờ Thái sư thúc ở đâu?

Trưng Nhị nói xong, liếc nhìn Trưng Đế. Cả hai cùng ngơ ngẩn nhìn về chân trời xa. Trưng Đế cũng nói:

_ Thái sư-thúc như con rồng, khi ẩn khi hiện, không biết đâu mà lường. Làm sao tìm được người bây giờ? Khổ một điều ngoài người ra, không ai làm được cả.

Chu Tái-Kênh, là lọai người ruột để ngoài da. Nghe Trưng Nhị nói vậy, bà không biết mình bị khích, lòng tự ái nổi dậy, bà hét be be:

_ Cái gì mà lão làm được, ta lại làm không được ? Nói mau, nói mau, ta làm cho mà coi. Nói mau, nếu không ta đánh cho mấy bạt tai bây giờ !

Phương-Dung đổ dầu thêm vào ngọn lửa:

_ Đúng đấy, phải đi tìm Khất đại-phu về mới xong. Khắp thiên hạ ngoài ngài không ai làm được việc này.

Chu Tái-Kênh tức quá, tóc dựng đứng, mắt mở to, miệng lắp bắp:

_ Việc gì, nói đi! Ta quyết làm. Nói mau.

Trưng Đế thấy khích bà như vậy đã đủ. Ngài phán:

_ Nếu lão bà quyết tâm, vậy chúng ta cứ nhờ người làm dùm. Thử xem biết đâu !

Trưng Nhị nói:

_ Thưa lão bà, hiện con gái của Chu sư thúc là Chu Tường-Qui, được Quang-Vũ phong là Tây-cung quí phi. Tường-Qui tuy làm quí phi, mà lòng dạ lúc nào cũng nghĩ đến Lĩnh-Nam. Sư muội ở cạnh triều Hán, kết thân với đại thần, khiến mọi người cản trở Quang-Vũ khởi binh đánh Lĩnh-Nam. Chỉ cần y để Lĩnh-Nam yên năm năm, chúng ta không sợ y nữa. Trước kia Tường-Qui được mẫu thân giả làm cung nữ, ẩn trong Tây-cung giúp đỡ. Sau này Chu sư thẩm tuẫn quốc, Tường-Qui thân cô thế cô giữa hang hùm, miệng rắn.

Chu Tái-Kênh nước mắt đầm đìa:

_ Tội nghiệp cháu tôi quá! Sao hoàng đế không gửi người sang giúp cháu tôi. Nước mình nhân tài nhiều quá mà.

Phương-Dung tiếp:

_ Hôm rời Trường-sa về Giao-chỉ. Chúng cháu định cử Đào Phương-Dung, Đinh Hồng-Thanh sang giúp Tường-Qui. Song Đinh Hồng-Thanh đã tuẫn quốc mất rồi. Và Đào Phương-Dung, võ công tuy cao, song cũng không địch lại Liêu-đông tứ ma. Chúng cháu muốn nhờ Khất đại-phu sang Trung-nguyên, lấy cớ chữa bệnh giúp triều đình nhà Hán, hầu giúp Tường-Qui. Song nay lão bá quyết tâm ra tay chúng cháu xin kính cẩn nhờ lão bá.

Tái-Kênh chỉ vì quá yêu nước mà thành người nóng nảy. Nay nghe việc giúp Tường-Qui không ai làm được, chỉ mình bà làm nổi, bà đã hả dạ. Bà nói:

_ Được! Ta đi giúp đỡ. Ngặt nó không biết mặt ta. Làm sao ta giúp nó được.

Chu Bá nói với Phương-Dung:

_ Chúng ta cần có thêm người võ công cao, theo cô mẫu. Không biết cử ai đi được?

Phương-Dung ngẫm nghĩ một lát rồi đáp:

_ Chúng ta cần hai người giúp lão bá. Một người lớn tuổi võ công cao, một người biết điều khiển Thần-ưng thông tin. Ngặt một điều, chúng ta đều đã xuất hiện. Người Hán biết mặt hết rồi. Tôi nghĩ chỉ có hai người đi được. Song tôi không dám sai. Hai người này, ngoài Trưng sư tỷ ra, không ai dám cử đi.

Trưng Đế gật đầu cười:

_ Ta hiểu rồi! Người thứ nhất là Đào vương phi. Người thứ nhì là Tây-vu Quách A. Có phải thế không?

Phương-Dung gật đầu. Trưng Đế cười:

_ Đào vương phi một lòng với đất nước như Thái sư thẩm đây. Chắc chắn tôi nhờ, người sẵn sàng ngay. Còn Quách A mới lấy chồng, bắt xa chồng thì tội nghiệp. Tôi nghĩ nên cử Tây-vu tiên tử có lẽ hay hơn.

Trưng đế sai viết chiếu chỉ mời Đào vương phi đến Mê-linh, rồi sai Thần-ưng mang đi.

Trưng Đế giao cho Chu Bá, Trần Năng tiếp đón, làm tiệc đãi Chu Tái-Kênh. Các đại thần thuộc phái Tản-viên như Đặng Thi-Kế, Nguyễn Thành-Công đều ở vai dưới của Khất đại phu đến hai, ba bậc. Họ kính trọng ngài như tiên ông, vì vậy họ đối với Tái-Kênh cực kỳ cung kính. Bà bớt phẫn hận chồng phần nào.

Trong tiệc trà, bà được Trưng Nhị tường thuật tỷ mỷ công cuộc phục hồi Lĩnh-Nam trải qua không biết bao nhiêu cay đắng cho bà nghe. Bà mới tỉnh ngộ rằng: Trước đây mình vô lý, muốn nuốt mặt trời, mặt trăng. Bà hối hận, muốn tìm Khất đại phu, tạ lỗi, nhưng không biết ông ở đâu.

Trong khi bàn về võ công, bà tự hiểu bản lĩnh mình hiện còn thua chồng với Đào Kỳ xa. Lòng tự kiêu giảm bớt đi rất nhiều. Tiệc đang vui, Quách A chạy vào tâu với Trưng Đế:

_ Sư tỷ! Em đến chịu lỗi với sư tỷ.

Nàng bưng mặt oà lên khóc.

Trưng vương dắt Quách A ngồi xuống, hỏi:

_ Có việc gì xảy ra.

Quách A khóc:

_ Em làm tổng trấn Mê-linh, không biết kiểm soát, để gian nhân vào phá ngục cứu Tô-Định với bọn Đức-Hiệp ra. Chúng giết chết mười hai người coi ngục. Em đã cho Thần-ưng tìm, trong khoảng trăm dặm không thấy tung tích chúng đâu.

Phương-Dung nhờ Lễ-bộ thượng thư Nguyễn Quí-Lan tra xét dùm. Nguyễn Quí-Lan đi một lúc trở về, báo:

_ Quách A không có lỗi. Gian nhân đột nhập nhà ngục, dùng chưởng lực đánh vỡ hết then cửa, chặt xích, cứu tù nhân, giết mười ba quân coi ngục. Dù Quách-A có hiện diện cũng không phải đối thủ của chúng.

Nàng đưa ra cái gông bằng gỗ, bị chưởng lực tiện đứt như con dao sắc, cắt một củ khoai. Phương-Dung cầm lấy coi nói:

_ Trên đời này, e chỉ có Bồ-tát Tăng-Giả Nan-Đà với Đào tam lang mới có chưởng lực mạnh dường này. Không ngờ còn có người thứ ba đạt tới trình độ không thể tưởng tượng được.

Trần Năng hít một hơi, vận Thiền-công phóng vào gông. Cái gông bật lên, bị tiện đứt đôi, song vẫn có chỗ gồ ghề, chứ không đứt ngọt, trơn như bị gian nhân đánh. Tái-Kênh vận khí, phát chiêu Phục ngưu thần chưởng đánh xuống. Cái gông bị vỡ ra làm nhiều mảnh nhỏ vụn. Bà nói:

_ Kẻ nào mà võ công đến dường này?

Nguyễn Quí-Lan thở dài nói tiếp:

_ Điều kỳ lạ hơn nữa. Gian nhân giết chết hai mươi người trông coi năm dàn Thần-nỏ ở cửa đông thành Mê-linh. Chúng tháo Thần-nỏ ra từng mảnh, chở đi mất.

Phương-Dung lo ngại:

_ Chắc chắn cũng người cứu bọn Đức-Hiệp đã làm điều đó. Nếu chúng tháo mang đi, bắt chước chế tạo, làm phản thì không ngại. Đáng ngại, là chúng ăn cắp trao cho Quang-Vũ. Quang-Vũ chế tạo, đánh chúng ta mới nguy.

Chu Tái-Kênh hỏi Chu Bá:

_ Này cháu! Lê Đạo-Sinh có mười đệ tử. Phùng Chính-Hòa bị Nghiêm Sơn chặt đầu. Vũ Nhật-Thăng bị Đào Thế-Hùng giết. Hoàng Đức theo Lĩnh-Nam. Vợ cháu thì tuẫn quốc. Như vậy còn năm người vượt ngục cùng với Tô Định. Có phải vậy không?

Chu Bá kính cẩn đáp:

_ Thưa cô mẫu, đúng như vậy. Vợ chồng Vũ Hỷ bị Phương-Dung cắt mất hai tai. Tuy vậy võ công chúng vẫn còn nguyên.

Trưng Nhị ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:

_ Phương-Dung phải viết thư, truyền tin này đến tất cả lạc vương, cùng bảy đại tướng quân thống lĩnh bảy đạo quân, nhờ báo cho cả đạo Trường-sa của Phật-Nguyệt. Mặt khác chị sẽ viết thư cho Công-tôn-Thiệu, Thục-đế hầu họ đề phòng. Cuộc vượt ngục này, ắt có liên hệ với Mã thái-hậu, Mã Viện chứ không sai.

Hơn tháng sau. Hoàng môn quan tâu:

_ Có Đào vương phi ở Cửu-chân xin vào yết kiến.

Trưng Đế tuyên lệnh cả triều thần ra đón.

Uy tín Cửu-chân vương Đào Thế-Kiệt cực kỳ lớn tại Lĩnh-Nam. Chỉ nguyên em ruột là Đào Thế-Hùng, em vợ là Đinh Đại, cũng từng nổi danh hơn mười năm qua, về lòng yêu nước. Các đệ tử Cửu-chân: Đào-Kỳ, Phương-Dung, Hiển-Hiệu, Quí-Minh v.v. đều đang giữ quyền nghiêng nước.

Đào vương phi thấy Trưng Đế định làm lễ. Trưng Đế vội ôm lấy bà:

_ Sư thúc đừng quá câu nệ.

Phương-Dung, Trần Năng vội quì xuống hành lễ với vương phi. Vương phi đỡ dậy nói:

_ Ta được chiếu chỉ của hoàng đế tuyên triệu, vội lấy ngựa đi ngay. Mọi việc ở Cửu-chân đều tốt đẹp. Đô Dương giỏi lắm. Hừ! Bố còn sống, cũng không bằng. Hai mùa vừa qua đều trúng. Nhà nhà đầy lúa gạo. Lợn, gà, trâu, bò khắp đồng. Đi đến đâu cũng chỉ thấy trẻ con đọc sách, nghe cụ già kể truyện thời Văn-Lang, Âu-Lạc.

Trưng Đế truyền mời Đào vương phi vào điện Kinh-dương.

Nguyên sau khi phục hồi Lĩnh-Nam. Trưng Đế truyền xây thành Mê-linh làm thủ đô. Thành dài ba mươi dặm, rộng hai mươi dặm. Trong thành còn lớp thành nữa, gọi là Hoàng-thành, dài khoảng năm dặm, rộng khoảng ba dặm. Trong thành có các điện Kinh-dương để tiếp khách, thiết triều. Tập-hiền để hàng ngày hoàng đế cùng triều đình làm việc. Cung Âu-Cơ là chỗ để hoàng đế ở. Ngoài ra còn cung Văn-đức, Lạc-đức.

Đào vương phi liếc nhìn điện Kinh-dương: Trên tường vẽ lịch sử Lạc-Long Quân kết hôn với Âu Cơ. Sự tích bánh dầy, sự tích dưa hấu, sự tích vua An Dương dựng nước, Cao-cảnh hầu chế nỏ thần v.v...Phương-Dung nói với Đào vương phi:

_ Thưa mẹ, hoàng đế ban chiếu triệu hồi mẹ về triều kiến. Vì hiện Lĩnh-Nam có một việc rất khó khăn, không ai đương nổi, ngoài phu nhân của Khất đại phu với mẹ. Con nghĩ, mẹ sẽ vui lòng.

Đào vương phi cười:

_ Nhà họ Đào mình, trải bảy đời. Đời nào cũng đem hết tâm huyết mong phục hồi Lĩnh-Nam. Lĩnh-Nam phục hồi. Chú con tuẫn quốc, bố con vì mừng vui mà qua đời. Ta thấy thanh bình trở lại, việc cai trị Cửu-chân đã có Đô Dương. Ta ở không chẳng có việc gì làm. Nếu hoàng thượng cần đến sức mọn của ta. Ta xin tuân chỉ.

Trưng Đế thuật sơ lược vụ Tường-Qui, Mã thái-hậu, Liêu-đông tứ ma, Mã Viện v.v...cho bà nghe, rồi kết luận:

_ Trẫm xin vương phi đừng quản ngại, cùng phu nhân Khất đại phu sang Lạc-dương. Trẫm sẽ cử Tây-vu tiên tử mang theo hai mươi Thần-ưng làm cầu liên lạc. Khi thu được tin tức gì, xin Vương phi báo cho Đào tam đệ. Tam đệ dùng Thần-ưng chuyển về đây.

Thượng thư Bộ-hình Vũ Công-Chất tâu:

_ Thần trộm nghĩ: Triều thần Lĩnh-Nam làm việc, do lòng son đối với đất nước. Mong cho nước mạnh, dân giàu. Người người hạnh phúc. Còn triều thần nhà Hán, mười người làm quan, chín người chỉ mong phú quí. Quí thì Tây-cung quí phi Chu Tường-Qui có thể hứa với họ. Còn phú, chúng ta chẳng nên tiếc vàng bạc. Có vàng, việc gì cũng xong.

Chu Bá cũng tâu:

_ Lời Hình-bộ thượng thư đúng. Thần xin bệ hạ trích trong số kho tàng lấy được tại thành Bạch-đế, hiện chưa dùng tới, giao cho cô mẫu với Đào vương phi, mang theo. Khi cần thì bỏ ra, hối lộ cho triều Hán. Thà ta mất chút ít vàng bạc, còn hơn mất tiền, mất của nuôi quân chinh chiến.

Tây-Vu tiên tử tâu:

_ Bệ hạ truyền chỉ thần đi Trung-nguyên, thần xin lĩnh mạng. Có điều thần phải giả làm cung nữ Hán, mà không biết tiếng Hán sao cho tiện?

Tái-Kênh cười:

_ Tiên-tử đừng lo. Mỗi cung nhà Hán có hàng trăm cung nữ. Ta sẽ nói với Tường-Qui truyền cho mọi người biết, ngươi được gửi từ Lĩnh-Nam sang phụ trách nấu ăn cho quí phi. Người không biết nói tiếng Hán càng tốt.

Bỗng Quách A vào tâu:

_ Tâu bệ hạ, có biểu của Bắc-bình vương tấu trình.

Phương-Dung cầm lấy, đệ trình lên. Hoàng-đế đọc xong, đưa cho Phùng Vĩnh-Hoa. Phùng Vĩnh-Hoa mở ra đọc, vỏn vẹn có mấy chữ:

Khẩn cấp tấu trình. Đặng Vũ được triệu hồi về Lạc-dương. Mã Viện thay Đặng trấn thủ Nam-dương. Phía Thục, Thục đế lâm bệnh.

Phùng Vĩnh-Hoa tâu:

_ Đặng Vũ được triệu hồi về kinh, càng có lợi cho Lĩnh-Nam. Vậy xin Đào vương phi lên đường gấp rút cho.

Phương-Dung truyền chọn ba con ngựa thực tốt, gói vàng, ngọc, giao cho Đào vương phi. Hôm sau bà cùng Tái-Kênh, Tây-vu tiên tử lên đường. Đoàn Thần-ưng hai mươi con bay trước, dọ thám.

Tái-Kênh, Đào vương phi đều kinh lịch nhiều. Chỉ có Tây-vu tiên tử, tuổi trên năm mươi, mà chưa rời khỏi Giao-chỉ bao giờ, nên cái gì đối với bà cũng lạ hết. Bà luôn thắc mắc.

Bốn ngày sau, đi vào địa phận Phiên-ngung. Đào-Kỳ đã được Thần ưng báo trước. Ông dẫn Hồ Đề, Vũ Trinh-Thục, Đào Nhất-Gia ra ngoài thành tiếp đón.

Đào vương-phi (Đinh-xuân-Hoa) thấy con út, mới hồi nào còn vòi ăn, khóc nhè. Bây giờ tước tới Bắc-bình vương, làm Đại tư-mã, thống lĩnh binh quyền Lĩnh-Nam. Bà mừng không kể xiết. Lê Ngọc-Trinh thấy Tái-Kênh vội quì xuống hành đại lễ:

_ Đệ tử Lê Ngọc-Trinh, xin bái kiến sư nương. Kính chúc sư nương sống lâu trăm tuổi.

Tái-Kênh đỡ nàng dậy:

_ Ông chồng ta dạy học trò hay thực. Trần Năng võ công cao hơn ta. Lê Ngọc-Trinh lĩnh ấn Chinh-thảo đại tướng quân. Oai thực. Còn Quỳnh-Hoa, Quế-Hoa đâu?

Đào Kỳ thưa:

_ Quỳnh-Hoa, Quế-Hoa đóng quân cách đây hơn ba trăm dặm. Hai người đều lĩnh ấn Hổ-oai đại tướng quân, thống lĩnh đạo binh Nhật-nam. Vì vậy chưa về kịp.

Có tiếng nói vọng vào:

_ Đào tam ca. Bọn em về đây.

Đào Kỳ chỉ Tái-Kênh:

_ Đây là bà ngoại của hai em.

Quỳnh-Hoa, Quế-Hoa bị mồ côi cha mẹ từ sớm. Trước đến nay chỉ biết có ông ngoại. Nay thêm bà ngoại, thì mừng lắm. Hai bà nhảy đến ôm Tái-Kênh. Ba bà cháu lặng đi giờ lâu, không nói một lời. Tái-Kênh bưng mặt hai cháu lên nhìn. Bà tát yêu nói:

_ Hai đứa này, giống mẹ nó như đúc. Võ công hai cháu học đến đâu rồi?

Hai nàng chưa kịp trả lời, Tái-Kênh vung chưởng đánh liền. Quế-Hoa kinh ngạc. Song thấy chưởng của bà ngoại mạnh quá, nàng vội vận khí ra Thủ tam dương kinh đỡ. Bình, người bà rung động, phải lùi đến ba bước để hoá giải. Tái-Kênh khen:

_ Năm nay cháu mới hai mươi mốt tuổi, mà võ công đã đến trình độ này, thì khi bằng tuổi ta, công lực sẽ cao đến chỗ không biết đâu mà lường. Cháu hơn ta, hơn cả mẹ cháu.

Hai hàng lệ chảy xuống, bà than:

_ Trước đây, ta không nghe lời ông cháu, cùng bố, mẹ cháu khởi binh. Kết quả thảm bại khôn cùng. Bây giờ, hai cháu lĩnh ấn đại tướng quân, đến nằm mơ ta cũng không thể ngờ tới.

Đào Kỳ truyền bày tiệc, giới thiệu các anh hùng với Đào vương phi và Tái-Kênh. Đào Nhất-Gia (Sún Lé) ngồi cạnh Tây-vu tiên tử, giảng cho bà những kinh nghiệm chỉ huy Thần-ưng, cùng chi tiết về triều đình nhà Hán.

Vũ Trinh-Thục nói với Đào vương phi:

_ Hiện trong triều, tam công, tể tướng, cho đến Mã Vũ, Phùng Tuấn đều có cảm tình với Lĩnh-Nam. Tháng trước đây, nhân sinh nhật Hàn thái-hậu, sư huynh Trần Tự-Sơn, sư tỷ Hoàng Thiều-Hoa đều về Lạc-dương dự lễ. Cháu cho theo dõi, tìm tông tích Liêu-đông tứ ma, mà không thấy. Vậy sư bá cần phải đề phòng.

Đào vương phi chỉ ở lại Phiên-ngung có hai ngày, rồi lên đường. Đào Kỳ dặn bà không nên ghé bản dinh Phật-Nguyệt ở hồ Động-Đình, sợ lộ diện, cứ âm thầm vượt Trường-giang đến Nam-dương. Sang địa phận Nam-dương, nếu quan binh có hỏi, thì đưa thẻ bài của Đặng Vũ ra. Đặng Vũ hiện lĩnh đại tư mã, thống lĩnh binh quyền thiên hạ.

Vượt hồ Động-đình lên phía Bắc, vừa đi được mấy dặm. Đoàn Thần-ưng bay trên trời kêu ré lên báo động, rồi lao về phía trước. Tây-vu tiên tử ngạc nhiên, nhìn lên:

_ Dường như phía trước có gì khác lạ. Thần-ưng báo động cho chúng ta biết mà đề phòng.

Quả nhiên phía trước có bốn người, chia làm hai cặp đang giao chiến. Họ đều dùng kiếm. Cạnh đó, một người cầm kiếm ngồi trên ngựa, chỉ huy trên trăm võ sĩ bao vây. Chúng mặc áo quần thị vệ của Hán. Đào vương phi nói với Tái-Kênh.

_ Người già, cao, mặt trắng, với người trẻ hùng vĩ kia xử dụng võ công phái Thiên-sơn. Còn hai người mặc theo lối thị vệ nhà Hán không biết thuộc phái nào. Hai người thuộc phái Thiên-sơn võ công cao thâm khôn lường. Song dường như họ bị thương thì phải.

Bốn người giao đấu, chia làm hai cặp. Người cầm kiếm lược trận, thấy Đào vương phi. Y lên tiếng:

_ Chúng ta đang có truyện tính toán với nhau. Người ngoài cuộc hãy tránh xa. Nhược bằng cứ tiến tới, đao thương vô tình, đừng có trách.

Đào vương phi tính ôn nhu văn nhã, bà lùi ngựa lại, bỏ ra ngoài lời nói ngạo mạn của y. Còn Chu-tái-Kênh tính tình ương ngạnh đã quen. Bà nghe người lược trận nói như đe dọa. Tam bành lục tặc nổi lên. Bà thò tay vào túi móc ra hai viên ám khí, để trên đầu tay búng một cái. Tiếng ám khí kêu vo vo bay đến trước mặt người lược trận. Người này thấy kình lực ám khí kêu lớn, vội rút kiếm gạt. Song kiếm vừa cử lên, hai viên ám khí quay nhanh qua, vỡ tung, biến thành đám bụi mù. Y gạt hụt, tức quá chửi thề:

_ Mẹ cha con đượi nào kia. Mi định làm gì ông đấy.

Nguyên lối dùng thứ kình bắn ám khí thuộc tuyệt kỹ của phái Tản-viên. Đào Kỳ đã dùng bắn thư của Phùng Vĩnh-Hoa cho Hồ Đề trong trận hồ Tây. Khất đại phu dùng trong trận đánh Thục. Tái-Kênh học được võ công Văn-Lang, bà cũng biết xử dụng. Song bà dùng thuốc độc chế thành viên ám khí.

Tên lược trận vừa chửi dứt lời, con ngựa y cỡi, kêu một tiếng thảm thiết, nhảy dựng lên, ngã vật xuống đất, dẫy mấy cái, rồi nằm im, miệng ứa máu ra.

Tên chỉ huy thị vệ, nhảy vọt người lên cao, đáp xuống bãi cỏ. Y ngoạc miệng ra chửi:

_ Ba con đượi kia! Bọn mi đừng có trách ta tàn độc.

Miệng tuy chửi, mà trong lòng y kinh hãi không ít. Y liếc nhìn Chu Tái-Kênh, người gầy gò, tóc lốm đốm bạc. Không hiểu sao laị có kình lực bắn ám khí đến trình độ viên ám khí quay nhanh quá, vỡ thành bụi, chụp xuống đầu ngựa, khiến ngựa chết ngay. Y hú hồn chửi thầm:

_ Giả thử viên ám khí đó bắn vào người ta, thì ta đã chết rồi.

Tuy miệng chửi bới, mà y đứng im bất động.

Chu Tái-Kênh cười nhạt:

_ Chúng ta là khách qua đường. Các ngươi đánh nhau mặc các ngươi. Tại sao ngươi dám đe dọa ta ? Lão nương dung tình cho mi một lần. Nếu còn nói năng vô lễ, đừng trách lão nương tàn ác.

Mấy người đánh nhau đã đến hồi kịch liệt. Lão già cao chém liền ba chiêu, đẩy lui đối thủ, rồi bước lại dựa vào gốc cây thở hổn hển. Người trẻ tuổi hùng vĩ vừa đánh vừa hỏi:

_ Sư huynh! Chúng ta chỉ cần cố gắng một chút nữa, ắt có người Lĩnh-Nam tiếp viện. Sáng nay tiểu đệ đã cho Thần-ưng đưa thư đến Phật-Nguyệt cầu cứu rồi.

Tên cầm kiếm xua đám thị vệ xúm vào bao vây người trắng cao. Người này dựa lưng vào cây, tay cầm kiếm thủ. Bọn thị vệ không dám xông vào.

Đào vương phi nghe hai người phái Thiên-sơn nói với nhau, bà nói nhỏ với Chu Tái-Kênh:

_ Phu nhân! Đây thuộc đất Lĩnh-Nam. Từ bên kia sông lên phía bắc phải qua bốn thành, trải sáu trăm dặm mới tới địa phận Hán. Đám thị vệ này làm cách nào, vượt qua vòng kiểm soát của quân Thục mà tới đây ? Hai người kia thuộc phái Thiên-sơn, chắc có liên hệ với mình, nên họ mới gửi thư cầu cứu Phật-Nguyệt. Vậy phu nhân hãy tìm cách gây sự với đám thị vệ, ta cứu người, trong lúc nguy cấp.

Bản tính Chu Tái-Kênh vốn ngang ngược. Đến Trưng-Trắc, bà cũng không kiêng nể. Phương-Dung bà còn gọi là con lỏi. Từ hôm đi cùng Đào vương phi, tính tình ôn nhu, kiến thức quảng bác của Vương-phi, khiến bà nể phục, nhất nhất tuân lệnh. Nghe Đào vương phi bảo bà kiếm truyện với đám thị vệ, chính là điều sở trường của bà. Bà thích quá, tủm tỉm cười.

Phía trước, hai người phái Thiên-sơn mệt quá, đứng dựa lưng vào nhau, chống trả với đám thị vệ một cách yếu ớt, rời rạc. Tên chỉ huy thị vệ cười ha hả:

_ Công-tôn Thiệu, Vũ Chu, các người tự thị đệ nhất cao thủ đương thời. Không ngờ hôm nay các người chết về tay ta. Nếu các ngươi muốn sống, hãy quì xuống đầu hàng. Ta tha cho cái mạng kiến ruồi của ngươi.

Đào vương phi nghe tên chỉ huy thị vệ nói vậy, bà kinh hoàng:

_ Công-tôn Thiệu, tước phong Trường-sa vương, hiện cầm quân trấn đóng phía Bắc Kinh-châu, bao vây Nam-dương. Còn Vũ Chu trấn đóng Nam-quận. Tại sao lại bị bọn thị vệ bao vây?

Chu Tái-Kênh lững thững tiến lên phía trước. Tên chỉ huy thị vệ đã nếm mùi thất bại với bà. Y quát lớn:

_ Mụ kia! Đứng lại. Mụ đi đâu đấy?

Chu Tái-Kênh rất giỏi về nghề gây sự. Bà nói ngang:

_ Thằng lỏi con kia! Đất nhà ta, ta đi. Cái mặt mi mà dám hỏi ta à?

Tên chỉ huy thị vệ quát:

_ Mụ điên rồi sao? Đất nào của nhà mụ?

Chu Tái-Kênh mắng:

_ Thằng chó má này! Đây thuộc hồ Động-đình, thuộc lãnh địa Lĩnh-Nam. Ta là người Lĩnh-Nam, ta đi trên đất nước ta. Còn mi! Mi là người Hán, mi đến đất nhà ta, mi còn cấm ta đi ư?

Vừa dứt câu, bà đã đến sát người tên chỉ huy thị vệ. Tên này rút kiếm chĩa về phía trước nói:

_ Mụ mà không ngưng lại, đừng trách ta ác độc.

Chu Tái-Kênh cứ đi tới. Tên chỉ huy thị vệ đâm thẳng kiếm vào ngực bà. Thấp thoáng một cái, ba tiếng lách cách vang lên. Thanh kiếm trên tay y đã bị Tái-Kênh đoạt mất. Bà búng tay một cái, thanh kiếm gãy làm ba mảnh, bay véo đến, cắm ngập vào một cành cây gần đó.

Động tác đoạt kiếm, bẻ kiếm, phóng mảnh kiếm nhanh không thể tưởng tượng được. Tên chỉ huy thị vệ nhảy lùi lại liền ba bước. Hai tên cao thủ đánh nhau với Công-tôn Thiệu, Vũ Chu rút kiếm nhảy đến tấn công Tái-Kênh. Chỉ thấy loáng một cái, có hai tiếng keng. Hai thanh kiếm của đối thủ rơi xuống đất. Cườm tay chúng máu tươi ứa ra. Chu Tái-Kênh đã tra kiếm vào cười nhạt.

Bất giác bọn thị vệ đều bật lên tiếng la hoảng, chúng rút vũ khí bao vây Chu Táùi-Kênh.

Công-tôn Thiệu lên tiếng:

_ Lão tiền bối! Công-tôn Thiệu này mắt kém, không hiểu tiền bối với nữ vương Phật-Nguyệt Tổng trấn hồ Động-đình, Thừa-tướng Lĩnh-Nam Nguyễn Phương-Dung là thế nào?

Chu Tái-Kênh cười:

_ Chả là thế nào hết, mà cũng là thế nào hết. Chồng lão là bạn với Nguyễn Phan tiên sinh. Lão ở trên Phật-Nguyệt một vai, trên Phương-Dung đến ba vai. Lão gọi chúng là hai con lỏi tỳ.

Bà chỉ Đào vương-phi:

_ Vị kia là mẹ chồng của Phương-Dung.

Công-tôn Thiệu la lên:

_ Tại hạ Công-tôn Thiệu, thuộc phái Thiên-sơn, xin tham kiến lão tiền bối và Đào vương phi. Anh em tại hạ là chỗ bằng hữu với Tây-vu Thiên-ưng lục tướng, đệ tử của Đào vương gia. Đáng lẽ tiểu bối phải hành đại lễ. Song anh em tại hạ bị thương, không đủ lễ, mong lão tiền bối với Đào vương phi tha tội cho.

Chu Tái-Kênh ngang ngược thực, song nếu ai kính trọng bà. Bà tỏ ra thân thiết ngay. Bà lễ phép đáp:

_ Lỗi với chả lỗi. Đây thuộc Lĩnh-Nam, mà chị em lão không bảo vệ cho quí khách, để bọn thị vệ vô lễ với các vị... Chính chị em lão phải tạ lỗi với quí khách mới phải.

Bà bảo tên chỉ huy thị vệ:

_ Tên chó má kia, ngươi xưng tên đi! Lão nương không muốn đánh bọn vô danh. Dù bọn vô danh làm tôi tớ cho con mụ Mã thái hậu.

Công-tôn Thiệu nói:

_ Nó là Vũ-vệ hiệu-úy, chỉ huy thị vệ Hán, họ Mã tên Huy. Còn hai tên đánh nhau với chúng tôi là đệ tử của bọn Liêu-đông tứ ma. Thằng đen tên Triệu Đức, còn tên lùn kia tên Tiên Minh.

Tái-Kênh bảo Mã Huy:

_ Mi mau quì xuống tạ lỗi với quí khách của ta.

Miệng nói, tay bà vung lên, một viên ám khí trúng đầu gối Mã Huy. Y đau quá, ngã quị xuống trước mặt Công-tôn Thiệu, giống như quì lạy.

Triệu Đức, Tiên Minh hô bọn thị vệ nhảy vào tấn công. Tái-Kênh xuyên bên tả, chạy bên hữu. Chỉ lát sau, đám thị vệ hầu hết bị thương ở chân, nằm ngổn ngang rên la. Triệu Đức hô lên một tiếng. Những tên còn lại bỏ chạy về phía bắc. Tái-Kênh móc trong bọc ra năm ám khí, bà vung vèo, vèo theo. Chúng chưa chạy quá trăm trượng, đều ngã xuống rên la thảm thiết.

Đào vương phi nói:

_ Phải đuổi theo, bắt hai tên Triệu Đức, Tiên Minh lại.

Bà rút kiếm cùng Tái-Kênh, Tây-vu tiên tử đuổi theo. Được khoảng nửa dặm gặp Triệu, Tiên đang chạy trở lại. Mặt chúng tái mét. Phía trước, có nhiều tiếng gầm gừ vọng đến. Tây-vu tiên tử nói:

_ Phía trước kia có người của ta.

Tái-Kênh hỏi:

_ Sao em biết?

Tây-vu tiên tử chỉ lên trời:

_ Đoàn Thần-ưng đang bay lượn, đuổi hai tên Triệu, Tiên bỗng ré lên tiếng vui mừng. Tiếng kêu biểu hiệu chào đón chúa tướng. Nếu phía trước có người lạ, chúng đã nhào xuống tấn công.

Tây-vu tiên tử vừa dứt lời, một đoàn beo, con nào cũng to lớn, lông đen như gấm, gầm gừ rượt theo Triệu, Tiên. Tái-Kênh nhảy nhót mấy cái, đã bắt được hai tên này. Bà thấy đàn beo thì lùi lại. Tay rút kiếm. Nhưng Tây-vu tiên tử đã tiến lên, ôm cổ mấy con beo gấm, như đùa với chó. Mấy con beo thấy bà, cũng vẫy đuôi, chồm lên chào mừng. Con thì liếm tay bà, con thì cọ lưng vào cùi chỏ bà, giống như đàn chó, lâu ngày gặp chủ.

Tây-vu tiên tử hỏi lớn bằng tiếng Mường. Phía trước một thiếu niên anh tuấn, dáng điệu tiêu sái, ngồi trên mình voi, sau lưng có hơn trăm con dã nhân vác đao đi theo. Hàng lối ngay thẳng.

Thiếu niên thấy Đào vương phi, vội nhảy khỏi bành voi, lạy phục xuống đất:

_ Đệ tử Đào Ngũ-Gia kính cẩn tham kiến sư mẫu. Kính chúc sư mẫu an khang. Không hiểu sao sư mẫu lại có mặt ở chỗ này?

Đào vương phi không ngờ gặp Sún Hô. Bà hỏi:

_ Ngũ-Gia, con đem binh tướng đi đâu đấy?

Sún Hô đáp:

_ Thần-ưng tuần phòng, báo hiệu cho biết có đoàn hai mươi Thần-ưng từ phía Trường-sa tới. Con biết là người của mình. Thần-ưng cũng báo, có giặc đột nhập lãnh địa. Con đem đoàn Thần-beo, với trăm Dã nhân tuần tiễu, thì vừa gặp hai tên này. Con cho đuổi theo, tới đây gặp sư mẫu.

Đào vương phi hỏi Sún hô:

_ Con mau ra mắt Trần phu nhân đi. Người là phu nhân của Khất đại phu đó.

Tâm lý con người đời nào cũng thế: Trẻ con, người già dễ hiểu nhau. Sún Hô thấy Chu Tái-Kênh, tóc đã bạc, sinh kính trọng. Nghe bà là vợ Khất đại phu. Chàng vội chắp tay hành đại lễ. Chu Tái-Kênh vẫy tay:

_ Miễn lễ! Đệ tử Đào gia giỏi thực.

Bà quay lại: Đàn Dã-nhân, Thần-báo đã vây bọn Triệu, Tiên với hơn trăm thị vệ bị thương vào trong. Đào Ngũ-Gia thấy Công-tôn Thiệu, chàng kêu lớn:

_ Sư huynh! Tại sao sư huynh lại ở đây? Dường như sư huynh bị thương phải không? Ai đã làm sư huynh bị thương?

Công-tôn Thiệu ngồi xuống đất, nước mắt chảy ròng ròng. Sún Hô chạy lại đỡ ông dậy. Chàng móc trong túi ra một bình nhỏ, lấy hai viên thuốc bỏ vào miệng ông với Vũ Chu. Chàng ôm ông, để lên bãi cỏ bằng phẳng, đưa mắt nhìn bọn thị vệ:

_ Bọn chó săn thị vệ này làm sư huynh bị thương phải không? Để em cho báo ăn thịt bọn chúng trả thù cho sư huynh.

Sún Hô nói là làm. Chàng hú lên một tiếng lớn. Đoàn báo gầm gừ xông lại định ăn thịt bọn thị vệ.

Đào vương phi can:

_ Đồ nhi! Khoan. Con hãy hỏi cung chúng rồi cho báo ăn thịt cũng chưa muộn. Chúng ta cần trị thương cho Trường-sa vương với Vũ Chu sư huynh đã.

Sún Hô chặt cây, làm hai cáng. Chàng bắt bốn tên thị vệ bị thương nhẹ khiêng hai người. Đám còn lại, Tây-vu tiên tử sai Dã nhân trói thành một xâu dài.

Sún Hô nói:

_ Xin lão tiền bối, cùng sư mẫu ghé bản dinh của con ở gần đây, trước điều trị cho Công-tôn huynh và Vũ sư huynh. Sau hỏi cung bọn này.

Sún Hô lấy bút viết mấy chữ, gọi một Thần-ưng, bỏ thư vào ống tre dưới chân, rồi ra hiệu. Thần-ưng cất cánh bay bổng lên cao. Chàng nói:

_ Thưa sư mẫu, đệ tử dám lớn mật xin sư mẫu với các vị vào thành Trường-sa an nghỉ. Sư tỷ Phật-Nguyệt nghe sư mẫu giá lâm, chắc sẽ hoan hỷ lắm.

Sún Hô rất quan tâm đến Công-tôn Thiệu với Vũ Chu. Chàng đi cạnh cáng của hai người. Hai người được uống thuốc trấn thống, buồn ngủ quá, thiếp đi. Dọc đường, Sún Hô hỏi thăm tình hình Giao-chỉ, Cửu-chân. Đào vương phu thuật lại chi tiết cho chàng nghe. Khi bà thuật đến Chu Tái-Kênh, Sún Hô thích lắm. Chàng nói với bà:

_ Thưa sư mẫu, Lĩnh-Nam đã có Tiên ông Trần Đại-Sinh, cũng phải có dị nhân Chu lão bà mới hợp. Hồi trước Khất đại phu giảng: Vợ chồng âm, dương phải hòa hợp. Như tính ông nóng nảy, tính bà thâm trầm. Bởi vậy Khất đại phu làm gì cũng tính toán, cẩn thận, còn lão bà lòng nhiệt thành quá với đất nước, đến nỗi phu thê bất hòa.

Đến bờ hồ Động-đình, Sún Hô chỉ vào ngọn núi Tam-sơn nói:

_ Thưa sư mẫu, kia là núi Tam-sơn, trên núi có một thành nhỏ. Bản dinh của đệ tử đóng ở đó. Bây giờ thỉnh sư mẫu với các vị xuống thuyền, vượt hồ Động-đình đi Trường-sa.

Chu Tái-Kênh quan sát quân phong, quân khí hùng tráng, kỷ luật. Dưới hồ thủy quân đậu có hàng lối. Trên trời Thần-ưng ứng trực bay lượn tuần phòng. Bà cất tiếng khen: _ Cháu giỏi thực. Tuổi mới mười tám, mười chín, lĩnh ấn đại tướng, trấn thủ bắc hồ Động-đình, canh gác thế này, giặc không thể nào đánh úp được. Lực lượng trực tiếp của cháu có bao nhiêu người.

Sún Hô kính cẩn thưa:

_ Thưa lão bá, ở đây lớn nhất là sư tỷ Phật-Nguyệt. Hoàng đế phong sư tỷ làm Công-chúa, tổng trấn Trường-sa, Linh-lăng, hồ Động-đình. Tức vùng biên giới tiếp giáp với Kinh-châu của Thục. Phía đông giáp Nam-hải của Lạc vương Trần Nhất-Gia, có lực lượng của sư tỷ Thánh-Thiên. Phía Tây giáp Thục. Mặt tây rừng núi hiểm trở, không cần đề phòng. Điều cần thiết quân phải ứng trực sẵn sàng. Nếu Hán đánh Kinh-châu, Nam-hải, thì ta tiếp cứu ngay. Dù Hán có chiếm được Kinh-châu, muốn vượt Trường-giang đánh xuống phía nam, cũng muôn vàn khó khăn. Tuy vậy việc phòng bị vẫn phải nghiêm chỉnh.

Chu Tái-Kênh đã từng cầm quân đánh Hán, bà gật đầu hỏi tiếp:

_ Phật-Nguyệt tổ chức đồn trú như thế nào?

Sún Hô đáp:

_ Sư tỷ Phật-Nguyệt với đại lực lượng đóng ở Trường-sa. Lực lượng trừ bị do Trung-nghĩa đại tướng quân, tước Động-đình công Đô Thiên đóng ở Linh-lăng. Lực lượng trừ bị thứ nhì đóng ở Quế-dương, do sư tỷ Lê Thị-Lan, lĩnh ấn Trấn-tây đại tướng quân. Đa số kị binh đồn trú tại đây. Đinh Bạch-Nương, Đinh Tĩnh-Nương lĩnh ấn đô đốc thủy quân hồ Động-đình. Thủy quân chia làm năm đạo. Đạo trung quân chính sư tỷ Đinh Bạch-Nương thống lĩnh. Đạo trấn tây do Đinh Tĩnh-Nương, đạo trấn bắc do sư huynh Cao Cảnh-Khê, đạo trấn đông do đệ tử, đạo trấn nam do sư huynh Trần Quốc-Dũng. Tiên-yên sư bá tiếp cứu chung.

Đào vương phi hỏi:

_ Hồ Đề đóng ở Phiên-ngung với anh Kỳ của con. Đạo Tây-vu chia làm tám quân đoàn. Mỗi quân đoàn Tây-vu yểm trợ cho một đạo quân. Con chỉ huy quân đoàn nào?

Sún Hô đáp:

_ Con chỉ huy quân đoàn bảy. Mỗi Quân đoàn gồm có tám sư đoàn: Thần-ưng, tượng, long, hầu, phong, ngao, hổ, báo.

Thuyền dương buồm, đi thẳng về phía nam. Dọc đường, Công-tôn Thiệu, Vũ Chu vẫn ngủ ly bì. Đào vương phi lo lắng:

_ Công-tôn Thiệu lĩnh tước Trường-sa vương, tổng trấn Kinh-châu, Vũ Chu lĩnh ấn Trấn-đông tướng quân. Hai người thuộc loại đệ nhất cao thủ của Thục, uy quyền nghiêng nước. Không hiểu sao họ lại một người, một ngựa vượt Trường-giang đến địa giới Lĩnh-Nam, bị bọn thị vệ Hán vây đánh?

Chu Tái-Kênh gật đầu:

_ Ta lo Kinh-châu có biến cố gì chăng? Hoặc giả hai người vượt sông thăm Phật-Nguyệt rồi bị thị vệ Hán vây đánh? Cháu đã thẩm vấn bọn tù binh Hán chưa?

Sún Hô đáp:

_ Cháu đã truyền thẩm vấn bọn chúng. Nếu có kết quả, họ sẽ gửi Thần-ưng mang đến cho chúng ta. Hoặc lát nữa Công-tôn sư huynh tỉnh dậy ắt biết rõ ngọn nguồn.

Từ xa xa, hơn chục chiến thuyền dàn hành chữ nhất, trên cột buồm, cờ Lĩnh-Nam bay phất phới. Sún Hô chỉ đoàn thuyền:

_ Thưa sư mẫu, đoàn thuyền của sư huynh Trần Quốc-Dũng, con lớn sư bá Trần Quốc-Hương ở Thiên-trường đang đi tuần. Các chiến thuyền này trước đây của Hán. Hồi mình đánh Trường-sa, chiếm được. Mỗi chiến thuyền chở khoảng năm trăm thủy thủ.

Chu Tái-Kênh đứng ngắm đoàn thuyền. Lòng bà phơi phới tràn ngập niềm vui khôn tả. Bà nói với Đào vương phi:

_ Nhà tôi có ba anh em. Hồi khởi binh, anh cả tôi tuẫn quốc. Cháu Chu Bá mới ba, bốn tuổi, lạc mất tưởng chết, không ngờ nó ở ngay trước mặt mà tôi không biết. Còn người em út của tôi, lúc đó tuổi khoảng mười hai, mười ba cũng bị lạc. Nếu nó còn sống trên thế gian này, năm nay cũng khoảng năm mươi lăm, năm mươi sáu tuổi. Biết đâu nó chẳng ở gần chúng ta.

Sún Hô nói:

_ Lão bá đã xuất hiện. Chỉ cần đi thăm các nơi, nếu em lão bá còn sống, nhất định sẽ ra mặt, tương kiến với lão bá... Chỉ bọn cháu, cha mẹ bị quân Hán giết chết, không biết nguồn gốc ra sao, may được sư phụ thương tình cho mang họ Đào.

Thuyền áp vào bờ. Mọi người lên ngựa đi. Được hơn giờ, Sún Hô ghé ngựa sát lại cạnh Đào vương phi, Chu Tái-Kênh nói nhỏ:

_ Phía trước kia có ba gian tế, võ công rất cao. Chúng đi ngược chiều với mình. Xin sư mẫu quyết định.

Đào vương phi hỏi:

_ Sao con biết?

Sún Hô chỉ lên trời:

_ Thần-ưng báo cho biết.

Đào vương phi nhìn lên trời: Đoàn Thần-ưng mười con, thì ba con tách ra bay tà tà trên đầu ba kị mã. Còn bảy con bay lượn thư thả. Bà đáp:

_ Sư mẫu không nắm vững tình hình. Ý con định thế nào?

Sún Hô đáp:

_ Con không mang quân mã theo. Ở đây chỉ có bốn người khiêng cáng cho Công-tôn sư huynh với Vũ Chu. Nếu được lão bá với sư mẫu ra tay thì thôi. Bằng không, con báo cho sư huynh Trần Quốc-Dũng theo dấu Thần-ưng, đem quân vây bắt.

Chu Tái-Kênh gạt ngang:

_ Khỏi cần ai hết. Chúng ta bắt chúng giản dị hơn.

Ba kị mã tới gần. Sún Hô gò ngựa ngăn đường hỏi bằng tiếng Việt:

_ Các ngươi là ai? Mau đưa thẻ bài ta coi?

Ba người kị mã, một già, hai trẻ gò ngựa lắc đầu tỏ vẻ không hiểu. Sún Hô vội nói tiếng Hán. Người già quát lớn:

_ Thằng bé con kia! Mi hết nuốn sống hay sao, mà dám hỏi thẻ bài của ta?

Sún Hô đáp:

_ Ta là đại tướng quân, trấn thủ đông hồ Động-đình.

Tên kị mã cao liếc nhìn người già. Người già gật đầu. Lập tức y vọt khỏi mình ngựa, phóng người lên không, phát chưởng đánh Sún Hô. Sún Hô quát một tiếng, giật cương cho ngựa lùi lại hai bước. Người kia đánh hụt. Y đáp xuống đường. Người vừa xuống đất, y nhảy vèo tới, phóng chưởng tấn công tiếp. Sún Hô vọt mình từ ngựa xuống, phát chiêu Ngưu tẩu như phi phản công. Binh, người chàng bật lên cao. Đối phương vọt theo, đánh tiếp chưởng từ dưới lên trên. Ở trên cao, Sún Hô, phát chiêu Thanh ngưu qui gia đánh vào chưởng của y. Người chàng lại bay vọt lên. Chàng đá gió một cái, tà tà đáp xuống đất.

Tên kị mã già cười:

_ Tưởng Lĩnh-Nam thế nào, thì ra chỉ có vậy thôi sao. Hoàng Tứ, ngươi hãy kết thúc đi thôi.

Giọng nói của y coi Sún Hô không ra gì. Hoàng Tứ phóng liền ba chưởng như vũ bão. Đào vương phi đứng ngoài khen thầm:

_ Tên này tuổi bất quá hai mươi lăm, hai mươi sáu, bản lĩnh đã tới dường này. Bản lĩnh của ta với Đinh Đại, hồi ở hải đảo, chưa chắc đã hơn y. Cũng may Ngũ Sún được Đào Kỳ dạy nội công Long-biên, hợp với nội công Tản-viên, Cửu-chân, biết qui liễm âm, dương. Nếu không, e một chiêu đầu, đã mất mạng rồi.

Sún Hô thấy chưởng đối phương mãnh liệt. Chàng vận khí ra Thủ-tam dương kinh, phát chiêu Loa thành nguyệt ảnh của phái Cửu-chân. Bình, Hoàng Tứ, bật lùi lại hai bước.

Tên kị mã già kêu lên:

_ Ái cha!

Hoàng Tứ phát chiêu nữa. Sún Hô tỉnh ngộ:

_ Tên này dùng võ công Trung-nguyên. Ta phải dùng võ công Cửu-chân mới được.

Chàng phát chiêu Hải triều lãng lãng. Chưởng phong ào ào chụp xuống. Bình. Cả hai đều bật lùi lại hai bước. Lớp thứ nhì của chiêu Hải-triều lãng lãng phát ra. Hoàng Tứ bay bổng lên cao. Sún Hô vọt theo phát lớp thứ ba. Tên kị mã già thấy vậy vội phát chưởng tấn công Sún Hô, cứu đồng bọn.

Chu Tái-Kênh đứng ngoài, thấy chưởng phong của y có hơi nóng, hùng mạnh vô cùng. Nếu chiêu này đánh xuống, Sún Hô ắt tan xương nát thịt mà chết. Bà vội phát chiêu Lưỡng ngưu tranh phong trong Phục-ngưu thần chưởng tấn công y. Y thấy chưởng phong của bà mạnh đến long trời lở đất, vội đổi hướng chưởng về đỡ chưởng của bà. Bình. Hai người đều bật lùi trở lại.

Đào vương phi kinh ngạc:

_ Tên này là ai? Chiêu vừa rồi của Chu Tái-Kênh, e rằng chỉ có Khất đại phu, Đào-Kỳ, Lê-đạo-Sinh đỡ được mà thôi. Không ngờ chỉ ngang tay với y?

Bà quày lại, tên kị mã lùn, đã phát chưởng đấu với Sún Hô. Hai người ngang tay. Còn Hoàng-Tứ nằm dưới đất, miệng ứa máu, thoi thóp thở.

Bỗng có tiếng rên bên cạnh. Bà quay lại: Công-tôn Thiệu đã tỉnh dậy. Y vẫy tay gọi bà. Bà vội đến bên y. Y chỉ vào tên kị mã già nói:

_ Vương phi! Tên này có biệt hiệu Bắc-sơn hùng vương. Tên gọi Vương Hùng, một trong Liêu-đông tứ ma. Chúng cầm đầu tế tác dò thám Lĩnh-Nam, Thục. Cần bắt lấy nó, để nó thoát đi rất uổng.

Đào vương phi chợt nhớ: Hôm trước Đào Kỳ thuật lại rằng Mã thái hậu mới chiêu mộ được Liêu-đông tứ ma, võ công cao bậc nhất Trung-nguyên, mỗi tên đều có bản lĩnh ngang với Lê Đạo-Sinh. Bọn chúng đã vây đánh Nam-hải nữ hiệp, Lê Thị-Hảo, khiến hai bà tuẫn quốc. Vương phi lên tiếng:

_ Trần phu nhân! Ma đầu này là một trong Liêu-đông tứ ma, tên Vương Hùng. Chính y đã hạ sát Nam-hải nữ hiệp, với phu nhân của Chu Bá sư huynh. Mong phu nhân bắt y, trả thù cho người quá cố.

Chu Tái-Kênh đánh ba chưởng binh, binh, binh, quát hỏi:

_ Lời Đào vương phi nói có đúng không?

Vương Hùng cười nhạt:

_ Đúng thì đã sao? Ta sắp giết thêm con đượi thứ ba nữa đây.

Chu Tái-Kênh nổi cơn điên. Bà vận âm kình, phát chiêu Tứ ngưu phân thi đánh ra. Xịt. Chưởng Vương Hùng mất tích. Y lùi lại, mặt tái mét. Y phát liền ba chưởng, rồi nhảy ra ngoài vòng chiến bỏ chạy. Y vừa vọt được vài bước, thì giật mình đứng lại. Bên ngoài, một đội giáp sĩ đã vây kín từ hồi nào. Tiên-yên nữ hiệp quát:

_ Vương Hùng! Hôm nay mi phải đền tội.

Vương Hùng biết không trốn được. Y dừng lại nói:

_ Bọn Lĩnh-Nam nhà ngươi, tự thị anh hùng, mà lại dùng giáp sĩ vây bắt bọn ta. Bọn mi có giỏi, một chọi một, ta mới phục.

Chu Tái-Kênh cười nhạt:

_ Được! Ta đấu với ngươi.

Bà vận âm kình, phát chưởng tấn công. Vương Hùng vung chưởng đỡ. Đấu với nhau được hai chục hiệp. Vương Hùng yếu thế, chỉ còn lo chống đỡ. Y vừa đánh vừa lui. Vòng vây giáp sĩ dãn ra. Bất thình lình Vương Hùng đánh liền ba chưởng, rồi vọt người ra ngoài vòng vây bỏ chạy vào rừng. Vừa chạy được mấy bước, y vướng chân vào một sợi dây, ngã lăn ra. Rồi hai, ba bốn sợi dây cột khắp người y. Năm sợi dây siết chặt, khiến y không dậy được nữa.

Sún Hô chạy lại, dùng dây trói y. Bấy giờ y mới biết mình không vấp vào dây, mà bị năm con trăn quấn chặt.

Một thiếu nữ tuổi khoảng mười sáu, mười bảy, dáng điệu tinh anh, thổi ống tre ba tiếng. Mấy con trăn buông y ra. Sún Hô reo lên:

_ Vi Lan! Em tới bao giờ vậy?

Cô bé cười:

_ Bọn em đi tuần trong thành Trường-sa, trông thấy Thần-ưng bay lượn báo động. Biết anh đang giao chiến với địch. Em tin cho sư bá Tiên-yên biết. Người với em đem giáp sĩ đến tiếp viện. Em thấy tên này bỏ chạy, tung trăn bắt sống.

Sún Hô giới thiệu với mọi người:

_ Đây là sư muội Vi Lan. Trong quân đoàn của cháu có tám sư trưởng. Vi Lan giữ chức sư trưởng Thần-long.

Đào vương phi thấy Vi Lan xinh đẹp, linh lợi, muốn ôm lấy nàng. Song trên cổ nàng có hai con trăn quấn. Trên vai, tay, đầy rắn lục, làm bà ớn da gà. Sún Hô biết ý bà, nói:

_ Sư muội đừng đeo Thần-long trên người, làm sư mẫu của anh không thích.

Vi Lan cười, tung trăn, rắn lên chiếc xe. Trong lòng xe có hơn trăm con vừa rắn, vừa trăn quằn quại, ngóc đầu dậy táp, trông mà rợn người.

Đoàn người đến Trường-sa. Phật-Nguyệt được tin vội ra cổng thành đón. Chu Tái-Kênh nghe nói rất nhiều về Phật-Nguyệt: Kiếm pháp thần thông, lĩnh ấn Trấn-bắc đại tướng quân, trực tiếp phòng Hán. Bà những tưởng nàng linh lợi như Phương-Dung, Trưng-Nhị. Hay ít ra cũng lý lắc như Trần-Năng. Không ngờ nàng chỉ là một thiếu nữ mảnh mai, ôn nhu, khiêm cung, ít nói. Nàng vội xuống ngựa chắp tay:

_ Đệ tử kính cẩn ra mắt sư thúc.

Chu Tái-Kênh vẫy tay:

_ Đừng quá câu nệ! Cháu đứng dậy đi.

Phụ lục

Quân đoàn bẩy Tây Vu

Trực thuộc đạo Hán Trung. Trước do Đô Thiên thống lĩnh. Sau Quách Lãng thay thế. Quách Lãng tử trận, Đào Hiển Hiệu, Đào Qúy Minh thay thế.

Nhiệm vụ

Trấn Trường Sa, hồ Động Đình. Đã đánh trận hồ Động Đình từ 2 đến 22 tháng 8, năm Canh Tý (40 sau Tây lịch). Sau dự trận rút lui khỏi khu hồ Động Đình, đánh trận Hằng Sơn, Thiên Đài. Tất cả đều tuẫn quốc.

Thống lĩnh

Đào Ngũ Gia (Sún Hô). Di tích thờ tại đền Nga Sơn, Thanh Hóa, bị Trương Phụ, Mộc Thạch phá hồi 1407. Truy phong Thiên Ưng đại tướng quân, Sơn Tĩnh công.

Sư báo, Sư hổ

Hắc Hổ, Hắc Báo tức Nhất Trung Á, Nhị Trung Á. Di tích thờ tại đình xã Cấn Hữu, huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây. Truy phong Nhất Trung Á thánh, Nhị Trung Á thánh.

Sư hầu

Lôi Chấn, tức Xích Hầu tướng. Di tích thờ tại Tháp Miếu xã Đồng Tháp, tỉnh Hà Bắc. Truy phong Tây Vu Hầu tướng, Lôi Chấn hầu.

Sư long

Vi Lan, vợ Trần Quốc Dũng. Sau trận hồ Động Đình, được phong Thiên Tắc công chúa. Di tích thờ chung với Dị Tài công chúa tại xã Văn Lang, huyện Trí Quả, phủ Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc. Truy phong Trí Đức Thiên Tắc công chúa.

Sư ngao

Vi Đại Nham. Sau trận hồ Động Đình được phong Pháp Hải hầu. Di tích được thờ tại đình xã Cẩm Giàng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc. Truy phong Ngao Sơn đại tướng quân, Pháp Hải hầu.

Sư phong

Hắc Phong quận chúa. Sau trận hồ Động Đình được phong Chí Nhu Dị Tài công chúa. Di tích thờ chung với Thiên Tắc công chúa tại xã Văn Lang, huyện Trí Quả, phủ Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc. Truy phong Chí Đức Thiên Tắc công chúa.

Sư tượng

Hồ Nam. Di tích thờ tại đình Đồng Cầu, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hải Hưng. Truy phong Trung liệt đại tướng quân. Tam Giang hầu.

Sư ưng

Trước là Trâu Đen tử trận hồ Động Đình được truy phong là Tam Sơn Trung Dũng đại tướng quân, ban cho quốc tính Trưng Dũng. Di tích thờ tại bờ hồ Động Đình, nay không còn. Kế nhiệm Trâu Đen là Trâu Trắng, Trâu Mập, Trâu Lồng, Trâu Cầy. Di tích Trâu Trắng, Trâu Cầy, Trâu Lồng, dường như sau khi tử trận, chôn ở Hành Sơn. Tìm không ra. Truy phong Thiên Ưng đại tướng quân. Riêng Trâu Mập có tên Lý Công An. Di tích thờ tại đình Tế Cầu, xã Hồng Đức, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Hưng. Truy phong Thiên Ưng đại tướng quân.

(Còn tiếp)

(Quý Vị muốn đọc từ đầu quyển tiểu thuyết lịch sử này, hãy mở mục “Nhật Báo” và bấm tiểu mục “Truyện Dài”)

 

Last Updated on Monday, 19 June 2017 07:23
 

Sổ Vàng

An-Lộc Foundation