Font Size

Profile

Menu Style

Cpanel
Vương Thành: Kiến Trúc Sư Tâm Hồn QUỐC-NAM PDF Print E-mail
Written by admin   
Monday, 14 November 2011 11:25
Vương Thành: Kiến Trúc Sư Tâm Hồn QUỐC-NAM
Trong thi ca đấu tranh, Quốc Nam quả là một ‘kiến trúc sư tâm hồn’, bay bướm và lả lướt, đã mang được chất liệu ‘Người Tình’ là Quê Hương và ngược lại, vào thế giới thi ca, làm kích thích tố chủ lực cho một vận hội mới của con người Việt Nam khởi từ năm 2000. Đất nước Việt Nam sẽ không còn nước mắt, mà chỉ có những Người Tình đang đong đưa dắt dìu nhau trở về với quê hương, đất mẹ! Đó là hoài bão luôn luôn nằm trong tâm thức của Quốc Nam.

Cố Nhà báo Vương Thành: Quốc Nam, Nhà Kiến Trúc Tâm Hồn
Viết về cho anh ở Cao Nguyên Tình Xanh, từ thành phố biển Orlando thơ mộng của Florida, nơi mới đây là khởi thủy của cuồng phong Floyd, trận bão táp cuối cùng rớt lại của thế kỷ thứ 20, để rồi liên tuởng tới hiện tình đớn đau cùng độ của đất nước mình đắm chìm trong cơn hồng thủy, làm tận tuyệt biết bao sanh linh, làm tan tành vỡ nát những mảnh hình hài còm cõi miền Trung vốn đã khổ đau trong bể lửa vô thần, vốn điêu linh dưới hầm tai vạ của kẻ vô tâm...
Ơi, người Em Quê Hương, Tình-Nhân dàn dụa trong nước mắt, khổ lụy trong đau thương!
Biết gọi anh là gì cho đúng nhỉ? - Quốc Nam viết báo, chủ báo. Quốc Nam viết văn, nhà văn. Quốc Nam làm công tác truyền thanh, Giám đốc Đài Phát Thanh Saigon SRBS. Hoặc là Quốc Nam 44 năm làm thơ, thi sĩ. Quốc Nam khởi xướng Giải Quốc Tế Tượng Vàng Việt Nam hải ngoại ròng rã hàng chục năm nay. Chủ Tịch hay chức vụ gì gì đó tương tự, vân vân và vân vân...
Tôi không mấy hài lòng với cái tên gọi mà anh đã có. Ngay cả cái tên Thi sĩ hay Văn sĩ! Nó phù vân và mong manh quá! Nó cụ thể mà trừu tượng, mà mông lung lạ kỳ! Thơ văn thời nay ở hạ giới rẻ như bèo. Người người làm thơ, nhà nhà làm thơ. Thơ trong nước, thơ ngoài nước. Lềnh khênh! Người ta chỉ cần bỏ ra khoảng nghìn đô la, vài ba chục bài thơ in thành một tập, để hy vọng trở thành thi sĩ! 
Thi sĩ nhiều quá, nhà thơ nhiều quá! Mà thơ thì ít khi có hồn. Chẳng có hồn và chẳng có tình tự gì cả. Ngay đến tình tự yêu đương, than mây khóc gió, thương hờ trăng suông... cũng thiếu vắng hồn thơ.
Ngày xưa ở nước ta, thời thơ văn cực thịnh, dòng thi sử Việt Nam ở những thập niên 1930-40, loé lên những nhà thơ như T.T.Kh., Thâm Tâm, lẫy lừng tên tuổi chỉ cần một vài bài thơ xuất hồn. Sau này, qua cuộc biển dâu, có nhiều nhà văn, thi tài như Vũ Anh Khanh và Thẩm Thệ Hà, với bài Tha La Xóm Đạo trong tiểu thuyết Nửa Bồ Xương Khô, đã là ngòi nổ kích thích không cùng những bầu nhiệt huyết đứng lên trong lửa dậy xây thành, giành lại bờ tre quê hương nơi có ‘Tha La Xóm Đạo’, có ‘trái ngọt cây lành’ có ‘dừng lại cho hồn Tha La bảo’... Tôi mê những hình ảnh ẩn dụ đầy tính chất ‘nhiễm vân xuất nguyệt’ độc đáo này từ thuở nhỏ.
Lâu lắm rồi trong cuộc đời, dòng thơ chiến đấu cứ trải dài cả nửa thế kỷ qua, tôi chưa một lần bắt gặp dáng dấp Nàng Thơ nào nữa mang những hình ảnh ẩn dụ tương tự như thế. Thơ chiến đấu dễ làm nhưng khó hay, vì nó khó có tác dụng xoáy vào tim óc người đọc, nó dễ trở thành một bài tuyên truyền cứng ngắc. Cái nguy cơ ‘đi xuống’ của một số nhà thơ ‘đả đảo Cộng Sản’ là ở chỗ đó. Nội dung rỗng tuyếch như những cỗ người máy Robot xuống đường. 
Thi tập ‘Người Tình Quê Hương’ của anh đến với tôi tuy muộn màng, nhưng là rất cần thiết. Tôi có nói với Quốc Nam và người bạn thơ Hồ Tuấn Nhã: ‘Xin đưa cho tôi những bản rời các bài thơ của Quốc Nam thôi, vì tôi sợ 46 ý kiến của những cây đại thụ trong giới văn học nghệ thuật về thơ anh, sẽ làm lung lạc ý nghĩ đầy chủ quan và thiên kiến của tôi’. Và tôi đã làm như thế, khi có những dòng tản mạn muộn màng này gửi đến anh...
May mắn cho tôi, cái mà tôi tưởng rằng sẽ không bao giờ tìm thấy trong nửa thế kỷ đời tôi, lại về với tôi, sau khi đọc những vần thơ ‘Người Tình Quê Hương’ của anh. Tôi không nịnh anh đâu nhé, anh Quốc Nam! Tập thơ của anh phát hành đúng vào lúc Quê Hương đang cùng tận trong nỗi khổ lụy đất trời giáng xuống, trong những ngày rớt lại của thế kỷ 20.
Vâng, tôi là người may mắn. Anh là người may mắn. Ôi, những người may mắn sống giữa đôi bờ thời gian của 2 thế kỷ. Giữa Hoàng Hôn và Bình Minh của nhân loại, Hoàng Hôn và Bình Minh của đất nước Việt Nam. Dù hiện nay Người Tình của chúng ta có can qua khổ nạn, dù nhân loại chưa thực sự sống trong an bình trên một địa đàng đầy tiếng hoan ca, xênh xang trong vũ khúc Nghê Thường.
Nghìn thứ ba của một Thiên Niên Kỷ mới, sẽ là một hứa hẹn cho cuộc tình thăng hoa của những chặng đường dang dở éo le, cơ hồ không lối thoát, tuyệt vọng không chút âm vang, của:
‘Hai mươi bốn năm xưa,
Một đêm vừa gió lại vừa mưa.
Hai mái đầu xanh, kề nhau... than thở’. 
(Thơ Phan Khôi)
Và giờ này, với ‘Xác Khổ’ của ‘Người Tình Quê Hương’, Quốc Nam nói:
‘... Em gái tôi ơi, xác khổ,
Ngủ đi, anh vuốt mắt em.
Tháng Tư hoen màu cờ đỏ,
Lìa nhau, hồn đã nát mềm’.
(Xác Khổ, trang 90)
Người ta sẽ hết lòng hết dạ vì người tình, hơn hết bất cứ phục vụ cho một lý tưởng nào. Trên trường đua, trong sân bóng hay bất cứ tranh tài một môn thể thao nào, tác nhân của nữ tính, của người tình ‘áo tím’ vẫn là tố tác quyết định chung cuộc của sự thành bại. Âu đó cũng là quy luật của cả Đông và Tây, của Kim lẫn Cổ. 
Ngai vàng rung rinh vì tiếng cười Bao Tự, đất nước khuynh đảo cũng tại ánh mắt mỹ nhân: một hai nghiêng nước nghiêng thành (Nguyễn Du). Phạm Thái hơn một lần thất chí đã than thở ‘Bao nhiêu chí lớn trong thiên hạ, không đựng đầy trong đôi mắt mỹ nhân’. Người đẹp làm cho đời ta lên hương, cũng có khi làm ta xuống dốc. Hình bóng người đẹp bao giờ cũng tuyệt vời xuyên suốt trong thơ văn kim cổ. Thành ra, thơ đấu tranh vốn đã khó hay, nếu không có hình bóng người tình. Đâu còn là những bản tình ca đất nước? Từ những đổ vụn hoang tàn ta thấy những hình bóng thân thương. Bóng dáng nàng, bóng dáng người con gái ‘áo tím’, bóng dáng người tình học trò, người tình Đồng Khánh, Trưng Vương, Gia Long... hay những tà áo dài tím bay theo gió đông về ở Cầu Trường Tiền Sáu Vài Mười Hai Nhịp, hoặc bên bờ sông Hương lững lờ trong một chiều hè nắng dịu... 
Bên trời hải ngoại, ai kia đã làm khơi dậy những kỷ niệm êm đềm của ngày xưa thân ái trên bến nước Quê Hương, những hình ảnh rất Việt Nam, mà giờ đây, xa rồi, xa rồi, biền biệt mấy sơn khê.
Có những bài thơ như thế này của Quốc Nam, để còn dịp nâng niu luyến nhớ những kỷ niệm, để chắt chiu những hình ảnh ‘tóc bay suối nhạc vàng’ mà ‘thương ngàn đời tiếng vọng Cửu Long’, để mong có một ngày về ‘đường xưa lối cũ’ ở một thôn trang nào yêu dấu:
‘Em có quê hương bạt ngàn lúa chín,
Giòng Hậu Giang xuôi chảy đến bao giờ.
Em có hồn xanh ngát một màu thơ,
Tôi đứng đó mà yêu thương đã mở.
Em có môi hôn mềm hơn hơi thở,
Tôi một lần mà ngỡ đã trăm năm.
Em Miền Nam tóc bay suối nhạc vàng
Dung nhan đó, tim tôi bừng gió bão.
Từ xa xứ tôi như trời ốc đảo,
Đã cô đơn từ đầu kiếp lưu dân.
Bỗng gặp em, hình ảnh một Việt Nam,
Trong ánh mắt là tình quê vĩnh cửu.
Hẹn nhau nhé ngày nao về cố xứ,
Nối vòng tay xây dựng lại cơ đồ.
Tôi yêu em giữa đồng lúa như mơ,
Con thuyền nhỏ sẽ kết đầy hoa cưới.
Quê hương em, tiếng ca dao mời gọi,
Tôi thương ngàn đời tiếng vọng Cửu Long.
Hãy trao nhau tình Nam Bắc một lòng.
Em có tới làm dâu nhà Nam Định?
(Quê Hương Người Tình, trang 85)
Nếu không có một mối giao thoa da vàng nặng máu hải hồ lung lạc của kiếp sống lưu dân, nếu không có dòng sữa phì nhiêu của nước nhược non bồng đất Việt, nếu không có mối cảm thông đồng điệu của nòi tình, dù biết sau này sẽ biền biệt cách ngăn... thì làm sao và làm sao có được những nụ hôn vàng mùa hạ, những kề đôi má mùa xuân, để mà hoài vọng về một tương lai trùng phùng nơi cố quận quê ta xa lắc bên kia bờ biển Thái Bình Dương
‘Cám ơn em, nụ hôn mềm,
Trời xuân lại mở một miền hoa thơm.
Đêm ta mộng. Cõi thiên đường,
Trong em như có nỗi lòng ẩn sâu.
Mắt môi tỏa sáng một màu,
Thời gian miên viễn. Ta cầu nguyện đêm.
Cám ơn em, nụ hôn mềm,
Trái tim mùa hạ. Nỗi niềm xuân xanh.
Thắp lên ngọn lửa ân tình
Trong ta cỏ mướt. Đón hình hài nhau.
(Trái Tim Lửa Hạ, trang 48)
Nhiều, nhiều lắm như thế, bàng bạc khắp trongtập thơ Người Tình Quê Hương của Quốc Nam. Từ bài văn đề tựa của tác giả đến lời bạt khép lại của tập thơ, không nơi nào thiếu vắng hình ảnh Nàng, không bài thơ nào của Quốc Nam thiếu bóng dáng yêu kiều của một người con gái Việt Nam. Nhất định không có nàng, Quốc Nam sẽ khó làm thơ, dù bừng bừng khí thế đấu tranh trong tim óc.
Cũng xin ta đừng bao giờ hỏi Quốc Nam rằng: Những mảnh tình trong tập ‘Người Tình Quê Hương’ từ lời Tựa đến lời Bạt, có thật hay chăng? ‘Trái Tim Lửa Hạ’ có thật những nụ hôn vàng?
Ta cũng đừng bao giờ hỏi ông Gorbachev: ‘Hà cớ gì ông phá tan những tảng băng giá giữa Liên Sô và khối Đông Âu, với thế giới tự do, đầy chất trữ tình, đầy sắc thái lãng mạn, để xây dựng một thế giới phi thù hận’. Tôi cho rằng ông ta chính là người duy nhất trên thế gian này được mang tước hiệu ‘người kỹ sư kiến tạo hòa bình’, tài hoa và đầy nghệ sĩ tính, không một viên đạn hận thù, không một phát súng mờ ám, và đã xô ngã bức tường ô nhục Đông-Tây Bá Linh.
Thì ở đây có thể cũng thế, trong thi ca đấu tranh, Quốc Nam quả là một ‘kiến trúc sư tâm hồn’, bay bướm và lả lướt, đã mang được chất liệu ‘Người Tình’ là Quê Hương và ngược lại, vào thế giới thi ca, làm kích thích tố chủ lực cho một vận hội mới của con người Việt Nam khởi từ năm 2000. Đất nước Việt Nam sẽ không còn nước mắt, mà chỉ có những Người Tình đang đong đưa dắt dìu nhau trở về với quê hương, đất mẹ! Đó là hoài bão luôn luôn nằm trong tâm thức của Quốc Nam. Tôi cảm nhận rõ rệt như vậy.
Orlando, Florida, Hoa Kỳ, 
ngày cuối cùng của thế kỷ 20
Vương Thành

 

Sổ Vàng

An-Lộc Foundation