Font Size

Profile

Menu Style

Cpanel
Trận An-Lộc 93 ngày đêm tử chiến kỳ 17 - Cựu Thiếu Tá Nguyễn Sơn gởi Cô giáo Pha. PDF Print E-mail
Written by Editor   
Friday, 21 November 2014 17:29

NHỚ VỀ AN LỘC,

VIẾT GỞI CÔ GIÁO PHA.

 LTS.- Mùa hè đỏ lửa năm 1972 tại chiến trường An Lộc, Ðại Uý Nguyễn Sơn (cấp bậc cuối cùng là Thiếu Tá BCD), tác giả bài này là Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 2, Ðại Uý Phạm Châu Tài (Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 3), và Trung Úy Lê Văn Lợi chỉ huy 4 toán thám sát. Tất cả ba đơn vị đã đồng loạt phản công tái chiếm đồi Ðồng Long, một ngọn đồi nằm ngay yết hầu của thành phố An Lộc. Chính Trung Uý Lợi là người đã cắm cờ vàng ba sọc đỏ ngay trên đỉnh đồi Ðồng Long.

 Việc tái chiếm đồi Ðồng Long - một cao thế chiến thuật trấn giữ phía Bắc An Lộc đã chặn đứng mũi tấn công của địch từ hướng Lộc Ninh xuống, và việc giải toả thành phố An Lộc không còn là một giấc mơ nữa.

*   * * 

Bây giờ đã hơn 1 giờ khuya. Tôi biết chắc điều này, vì ngoài trời mờ ảo với ánh đèn nhiều màu của thành phố. Tuyết đang rơi thì phải. Hơn một tiếng đồng hồ trước dây, tôi đã thức giấc trong tiếng chuông điện thoại - Người đã gọi, tôi không quen hay đúng hơn là tôi không nhớ. Anh đã nhắc nhiều đến Biệt Cách Dù trong đó có cả tên chị, cô giáo Pha. Sau đó, tôi đã ngủ không được. Tâm trí cứ vẩn vơ nghĩ đến chuyện cũ, An Lộc năm xưa, đưa tôi vào ảo giác chiêm bao, trong mê Tỉnh thực mộng… Tôi đã quên tôi trong hiện hữu lạnh lẽo giá băng, trong thực tại tha hương kiếm sống … Tôi nhớ thực nhiều đến một mùa hè rực rỡ, trong lửa đỏ Bình Long - đến Chị.

 *  *   *     

Ngày 16/04/72 tôi đứng trong cơn chiều gió lộng, trên một đỉnh đồi phía Ðông, không xa Ðồi Gió, để nhìn vào An Lộc. Nhìn con đường ngoằn ngoèo, quanh co dẫn vào nơi khói lửa đó, lòng tôi bỗng dưng nôn nao vô cớ, như lần hẹn hò với người tình đầu đời của tuổi học trò. Ðêm tôi thao thức với âm thanh đạn nổ hai lần từ trời cao vọng xuống lẫn trong tiếng động cơ con tàu C130 văng vẳng khi gần, khi xa, đã khiến không sao tôi nhắm mắt được với điệu ru buồn bã này. Sáng hôm sau, đơn vị tôi vào An Lộc – con đường ngoằn ngoèo bỏ lại sau lưng.

Chúng tôi đã đi qua những Buôn làng xám ngắt trong tro tàn vắng lạnh. Chúng tôi đã đi qua những vườn tiêu xanh tươi trong nắng vàng ban mai và trên con đường rợp bóng mát cao su. Chúng tôi đã vào An Lộc để mai này nối tiếp đi lên phía Bắc – lên đỉnh đồi Ðồng Long ... Ðoạn đường không xa để đi qua Thị Xã nhỏ bé này, để đến đồi Ðồng Long cùng với thời gian không dài trong thế kỷ 20. Nhưng chúng tôi đã đi không tới trong một sớm một chiều, một ngày một đêm. Bởi thời gian không tính bằng phút, bằng giây, mà nó đã định bằng âm vang đạn nổ, bằng hàng vạn lượt pháo bắn vào thành phố này. Con đường chúng tôi đi tới, không đo bằng gang tấc mà bằng từng giọt mồ hôi và nước mắt của người lính và gia đình. Con đường bằng máu trơn trợt trong điêu tàn khi lên khi xuống như bể khổ trầm luân … Ðồi Ðồng Long như ảo giác ốc đảo trong sa mạc, khi trước mắt khi xa xăm, lúc chờn vờn lung linh trong bão lửa, lúc biến mất trong sương mù nhuộm khói .. An Lộc chìm ngập trong tiếng nổ và lửa cháy suốt 60 ngày như đêm Néron đốt thành trì, đốt cư dân để tìm hứng thơ …

Chúng tôi đã đi qua được trận bão lửa này, trong tình bạn đồng đội và hy sinh để đến được đồi Ðồng Long và Hớn Quản, ngoại biên cực Bắc của thành phố. Ngày 12/06/72 đồi Ðồng Long ngạo nghễ nhìn quân Bắc Việt tan tác tháo chạy dưới chân … chấm dứt tham vọng của “cáo miền Bắc” đội lốt “chồn miền Nam” nối liền Lộc Ninh - An Lộc làm thủ phủ xâm lấn miền Nam.

Ðêm nay trong cảnh rét mướt của xứ người, lòng tôi bỗng nhớ lại chuyện máu lửa xa xưa. Chuyện mà mấy ai còn nghĩ, còn nhớ đến trong cuộc sống vội vã bon chen này. Vả lại để làm gì, khi nó là một kỷ niệm không thuộc về mình. “Ai dư nước mắt khóc ngưòi đời xưa”, phải không chị? Ngay chính tôi cũng vậy. Dù là người mới đến nơi đây, chân chưa cạn vết nứt nẻ bùn đen, mặt chưa phai màu nắng cháy quê hương và lòng còn nặng biết bao điều nắng mưa ở Việt Nam, cũng đã phải vội vã theo chân bạn bè đi trước, kề vai vào gánh vác cuộc sống, chạy đôn chạy đáo trao đổi mồ hôi lấy bạc cắc, không đủ thời gian để viết lá thư tình với năm ba chữ yêu đương…

Vậy mà đêm nay. quên cả đêm dài cần thiết để lấy sức cho ngày mai còng lưng kéo cuộc sống, lại ngồi chong đèn, bút giấy nói chuyện đời xưa với chị. Hẳn là chị phải ngạc nhiên? Ở đây, tôi không nghĩ về chị như thế nào? Nhưng tôi đã nghĩ nhiều đến bạn bè của tôi đã sống và chết như thế nào mà đã gây cho chị một xúc cảm đặc biệt để viết thành hai câu thơ:

“An Lộc địa sử ghi chiến tích,

Biệt Cách Dù vị Quốc vong thân”.

Tôi cũng không nghĩ đây là “bảng phong thần” mà mặc nhiên chị đã dành cho chúng tôi - những người lính Biệt Cách Dù. Ðiều mà tôi đã cảm nhận được ở đây - ở chị - chị đã nhìn thấy chúng tôi chết từ “chiến tích” để được sống lại trong “sử ghi” và cũng vì “Vị Quốc” nên chúng tôi đã không còn chọn lựa nào khác hơn là “hy sinh” phải thế không? Tôi rất cảm kích về điều này của chị và có lẽ nhiều anh linh của bạn bè tôi cũng vậy.

Ðó là chuyện của “An Lộc địa” và Cô giáo Pha ngày nào. Còn chuyện của tôi ngày xưa ở chiến trường An Lộc với chị ngày nay ở Cali - Ðông có vẻ nắng ấm, hè có gió mát lá bay. Nơi chị đang an vui với gia đình và bạn bè. Tôi cũng đã được lắm bạn bè nghĩ nhớ đến tôi cũng như tôi thường nghĩ nhớ đến họ. Những người đang sống và những người đã chết; Những người bạn thân thiết cơm gạo sấy nước trên ngàn của một thời chinh chiến loạn ly… Một Dung, Khánh, Mỹ, Thể … Một Huyên, Cường, Châu, Chính, Khỏe… Tên của họ như vòng hạt chuỗi thẻ bài mà tôi đã từng mang theo nó trong năm tháng đời lính, để ngày nay trở thành những mắt xích ràng buộc tôi với họ trong nỗi nhớ của tâm hồn và vĩnh viễn trong mai kia dẫu tôi còn sống dư thừa một trăm năm, thế giới có trầm luân biến đổi đến đâu nữa – hình ảnh họ vẫn nguyên vẹn trong tôi với những đặc điểm ở họ tôi đã mến thương.

Những người lính chúng tôi đã không tiếc thân mình, thì với chiến trường nào cũng vậy, chỉ có máu đổ chứ không có lệ rơi. Nước mắt không rửa được hận thù và lệ rơi không ngăn cản được mưa pháo đạn bay nên đã xem chuyện “Tử biệt sinh ly” như chuyện tương lai trước mắt. Kẻ trước người sau rồi cũng đến phiên như một phiên gác đêm của người lính trong đời sống súng đạn mà thôi. Tôi đã từng sống bên xác các bạn bè còn nóng máu chảy, và nhìn thấy những khuôn mặt còn tươi tỉnh, bình thản tắt hơi thở. Tôi bình thản đợi chờ đến phiên mình, có lúc đã quên cả tiếng thở dài để chào người nằm xuống….

Nhưng chị có biết không? Tưởng như vậy là hết, là quên, quên người, quên tên, quên cả kỷ niệm và phiên mình chờ mãi vẫn không thấy đến. Không được chết vinh nên tôi đã phải sống nhục trong suốt 20 năm qua mà tôi vẫn chưa được yên… Ðể đêm nay lại đến với tôi, trong cuộc sống hiện hữu, những hình ảnh của người chết trong vọng tưởng hư vô. Dẫu giờ đây cơm gạo sấy đã không còn, chiến trận không còn sau 1975. Bạn bè vẫn còn chập chờn trong trí tôi. Bất chợt đâu đó ở ngoại cảnh, cũng có thể đưa tôi về dĩ vãng để được gặp lại họ trong đời chiến binh. Dẫu là mơ màng mộng tưởng nhưng đó cũng là nơi trú ẩn bình yên duy nhất của tâm hồn tôi giữa cuộc sống phàm tục gian truân này.

Những tháng ngày lưu đày, hay bên đường ô nhục xuôi Bắc ngược Nam, lúc nhai củ sắn, khi gặm củ khoai. Cuộc sống nối tiếp qua, những trại tập trung đầy ải anh em bắt làm thân trâu ngựa, kéo cây đẵn gỗ trên ngàn, lặn sông, lặn suối vớt đá đắp đường. Ðể rồi khi đông qua rét mướt đẫm mồ hôi, hè đến trong nắng lửa xỉu bên luống cày cạn khô lao lực. Họ đã lấy hung tàn để cạo rửa lý trí, vắt cạn sức lực con người bằng miếng ăn họng súng. Ðưa con người trở về với bản năng sinh tồn của một con vật, và trong cuộc sống yếu đuối tận cùng này, bạn bè như hiển linh đến với tôi trong dáng điệu nụ cười. Khi bên bờ suối hay đỉnh non cao, lúc chờn vờn trong mây gió như an ủi vỗ về; hãy ráng lên sống với giả trá vinh quang và khổ nhục để tồn tại, hãy nghĩ đến vài trăm hạt bắp cuối ngày. Thuốc cầm hơi để kéo dài cuộc sống lưu đày mà bạo lực đã ban cho. Tôi đã sống qua những ngày tơi tả trong manh áo phai màu thay da bọc xương. Tôi đã thấy từng toán người không vải che thân, da nhăn nheo thiếu máu lùa xuống ao nhúng nước như những đàn dị vật hai chân. Tôi đã thấy tôi trong đoàn người cùng khổ đó. Chúng tôi đã mất tất cả danh xưng làm người để thấp kém hơn cả loài thú vật nuôi trong nhà. Nhưng trong tôi vẫn còn niềm tự hào của đơn vị, của bạn bè để làm vốn liếng cho cuộc sống tinh thần và mỉm cười với hai chữ “sa cơ” và “thất thế”.

“Thập tam niên” lưu đày không là bao so với thế kỷ, với lịch sử loài người. Nhưng cũng là một sự mất mát đáng kể cho một đời người dù là trăm năm, phải không chị? Tuy nhiên đây không phải là lời than - một sự tiếc nuối cho cá nhân tôi hay cho bạn bè cùng thời - Giá gì 13 năm không ra chi đó mà nhắc nhở! Nếu có chăng chúng ta hãy nghĩ giùm đến hàng bao thế hệ con trẻ của chúng ta đã bị trì trệ trí tuệ - mụ mẫm trong kiêu căng phi nghĩa phi nhân - Quên Cha Ông, Tổ Tiên, Giống Nòi trong hai tiếng “anh, tôi” để chỉ biết có loài khỉ vượn ăn trái, ăn cây làm nên sự nghiệp bác đảng. Con tôi không hiểu chữ “Hiếu”, chữ “Ân”, chữ “Tôn”, chữ “Kính”, không học Ngũ Thường của Khổng Tử dạy làm người, mà lại thuộc lòng năm điều bác dạy như con vẹt nói tiếng người. Tôi nhìn trong gia đình với những xót xa đổi thay và thấy ngoài xã hội với những đổi mới kỳ quặc. Tôi đơn côi và bơ vơ trong cuộc sống nửa khóc nửa cười này.

Giờ đây trong đêm khuya khoắt, bên đèn chiếc bóng. Bạn bè lại đến trong giọng nói điệu cười, cho tôi được một lần vui trong ngày, để sau đó tôi lại trở về với sự lặng câm của cơn buồn cuộc sống, của dĩ vãng một thời làm lính và một thời đi tù.

Tôi đã không nghĩ đến bà con thân nhân hay người yêu thuở nhỏ, hoặc cuộc sống mai đây sẽ khá hơn trong kiếp sống ly hương này. Tôi sẽ có “Job” mong ước khiêm nhường của kẻ mới tới - để được chút tiền sống cho mình và sống cho người… Ðiều mà tôi nghĩ ở đây là những bạn bè của tôi không còn trên cõi đời này - những người đã chết không đám tang, không thay áo mới giữa chiến trường. Họ đã trả lại cho đời sống cả tuổi thanh xuân lẫn gian truân một thời. Họ đã thảnh thơi ra đi không bận với những gì còn lại và tiếp diễn trên thế gian này, dù là đầu đạn màu đồng đã ghim sâu vào thân thể, hay chiếc thẻ bài trắng bạc buông thòng trên cổ họ lúc tắt thở - họ bình yên trong hai tiếng “trận vong” thế là hết - một đời làm người!

Nợ nước, nợ đời họ đã trả. Nhưng tình nhà ra sao hả chị? Những mảnh khăn tang ngày đó không đủ phủ kín nỗi sầu bi, tiếng nấc nghẹn ngào của vợ con. Những tha thiết nhung nhớ ngày đó của người tình, người yêu – bây giờ chắc cũng đã quên… Nhưng sao hôm nay lòng tôi bỗng dưng lại bồi hồi xúc động nhớ đến họ…

Hơn 20 năm qua cứ mỗi lần nghe ai đó nhắc đến An Lộc tôi lại một lần nhớ đến bạn bè - nhớ đến chị. Tôi nhớ đến những người đã chết nơi này và nhớ đến chị đã sống nơi đó. Tôi nhớ đến những người đã tạo nên chiến tích cho đơn vị bằng cái chết của mình và nhớ đến hai câu thơ của chị đã làm cho họ sống lại trong lòng mọi người. Và tôi nhớ đến ngày chị bị thương như một sự an bài để “Ta quen nhau hề Lý Bạch lưu linh …” vì “An bài” nên chị đã may mắn thoát khỏi quả đạn pháo đến đón chị vào số phận “hồng nhan bạc mệnh” hay nửa đời làm người “bại tướng cụt chân”. Ðáng ra vết thương này phải là của chúng tôi - những người trực diện đối đầu phía trước - để cho mọi người - cho chị tay không cầm súng được an lành. Nhưng chị biết đó - những viên đạn đồng đâu có hồn để biết đau thương, những viên đạn đầu đen mang gan thép ngoại nhập nào có biết nhân tình. Dù cho một em bé tuổi chưa thôi vú mẹ, hay ông cụ bà lão tật nguyền chống gậy khấp khểnh trên đường về “Quy Tiên”. Ở chiến trường này đạn pháo của địch đã không nhân nhượng khoan dung cho bất cứ một thứ gì.Từ một bàn thiên trước ngõ cho đến một con chó lạc chủ lang thang bên đường. Tất cả đều phải huỷ diệt. Ðó là điều mong muốn của địch. Nên đã dùng pháo để băm vằm thành phố, băm vằm chúng tôi - những người lính đã quyết tử với họ… để giữ cho An Lộc được tồn tại trên phần đất tự do Miền Nam.

Bầu trời An Lộc xưa nay vẫn đẹp trong nắng hồng trời xanh, đều đặn hai mùa nắng đẹp, mưa vui, cho cây lá thêm tươi và vì là một Tỉnh lẻ địa đầu nên ba sư đoàn cùng với hàng ngàn chiến xa, đại bác từ Bắc xuôi Nam tràn vào tàn phá chiếm giữ. Bầu trời bỗng dưng rực đỏ màu hồng cùng với khói đen. Tai ương đến - khu Kito nhuộm máu giáo dân trong buổi cầu kinh - Chúa vẫn buồn dang tay chuộc tội thế nhân, mà người vẫn đam mê trong tội ác. Chùa xụp đổ, chẳng còn kinh mõ, Phật từ bi rơi nước mắt khóc điêu linh, cuộc thế trầm luân.

Ðoàn quân Cộng Sản vượt sông Gianh, Bến Hải, xuyên Trường Sơn qua biên giới. Ngày đêm ì ạch khuân vác chiến cụ ngoại bang vào Nam. Người anh em chỉ nhằm mục đích “giải phóng” san bằng tự do thanh bình của người dân Nam để theo cùng nghèo đói gông cùm miền Bắc, trong giáo điều bạo tàn nô dịch dân tộc. Chắc chị cũng đã nghĩ như tôi, chắc chị đã không đau vì vết thương trên da thịt mà đã ray rứt vì nỗi tủi hờn của một kẻ yếu đuối nữ nhi, tay không cầm súng, không quen phong trần cùng với gió sương. Chắc chị đã tiếc mình là nhi nữ, không là Triệu Ẩu, Trưng Vương, để phải lắm phen quay quắt trong hãi hùng. Từ Toà Hành Chánh hay ga xe lửa, khu Kito hay trường học, chị lang thang không nhà trốn giặc, trốn đạn khắp thành phố bị bao vây nhiều ngày này và chị đã đến đây. Chị đã thấy gì hơn những nơi khác? Cũng đổ nát điêu tàn, cũng pháo rơi đạn nổ vung vãi khắp phố xá nhà cửa của dân lành. địch nhằm mục đích gây khủng hoảng tinh thần chúng tôi để chờ thời cơ tiến đánh, nên đã ngày đêm không tiếc đạn bắn phá chúng tôi. Nhưng chị cũng thấy đó, chúng tôi vẫn thảnh thơi vui cười - chờ địch đến như chờ cuộc chơi. Và với không khí lạc quan đó đã khiến cho chị cảm thấy dễ chịu bình yên hơn, tin tưởng hơn - dù một chút tin tưởng đến muộn nhưng cũng đã giúp chị thoát khỏi sự ám ảnh nào đó của âu lo … khi nghĩ đến cần phải ngồi co ro ở một xó xỉnh nào đó mà quyền làm người của chị lệ thuộc vào họng súng AK, liệu chị có còn dám ngước mắt nhìn thẳng mặt họ mà vui cười như nhìn chúng tôi hay không? Hay chỉ biết cúi mặt chờ đợi - Những đầu ngón chân đen đúa đường xa của chúng, chị sẽ nhìn thấy ở đó, một phần nào số phận của mình sẽ được định đoạt. Chị sẽ bị mang ra bắn bỏ hay chôn sống. Có thể họ sẽ tha cho chị tội chết nhưng sẽ bắt chị phải đền tội sống. Tội làm người ở đất tự do, tội làm một cô giáo Tỉnh lẻ hay viên chức phụ động hành chánh ngày hai buổi đi về không biết hoan hô đả đảo … Chị sẽ được giáo dục lao động là vinh quang làm theo sức trâu bò quên ngày, quên đêm là tiên tiến, là mũi nhọn công đầu … Chân chị sẽ chẳng còn guốc hồng dép trắng - chẳng còn nuột nà gót sen và đôi tay của chị trau chuốt một thời sẽ nhăn nheo héo úa bởi bùn đen đất đỏ, bởi gai đâm vết cắt … tâm hồn chị sẽ chai lỳ trong ê chề buồn thảm để đến lúc chẳng còn biết mình là ai. Năm qua tháng lại chị sẽ trở thành một tên nô lệ chuyên nghiệp của chiến trường xuôi Bắc ngược Nam, quên cha quên mẹ, quên cả người tình … Ngày ngày vác sắn, tải đạn khiêng thương binh khiêng xác. Ðêm về ngồi xếp bằng vỗ tay ca hát như lũ con nít vừa mới lên năm. Cuộc đời rồi cũng tàn tạ rơi rụng như chiếc lá úa trên rừng … Gương Mậu Thân ngày nào ở Huế, chắc chẳng mấy ai quên …

Sống nơi này với chúng tôi chị đã cảm thấy dễ chịu bởi chúng tôi đã không vướng bận với cái sống, cái chết, nên chị cũng đã bỏ lo đi để bình thản. Rồi, một đêm mùa hè trăng soi, chị đã quên cuộc sống đầy dẫy chết chóc đau thương. Chị yên tâm quên pháo, nằm dưới hiên để ngắm chị Hằng lững lờ cùng trời mây. Chị có nhớ Lý Bạch chết vì trăng không? Tôi không hiểu Tô Ðông Pha đã chết như thế nào? Nhưng tôi đã biết rõ chị Pha đã thoát chết trong một đêm mưa pháo của trận chiến An Lộc. Và chị đã không chết ngay tại chỗ nhưng với vết thương đó liệu chị có nghĩ đến “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng, Bất hứa dương gian …” không?

Ðấy, chị đã sống gần chúng tôi bao nhiêu ngày chiến trận hung hiểm. Chị cũng đã từng thấy chúng tôi ngã gục trên chiến hào, hay bao phen thay phiên mang thương tích để giữ đất và giữ nước. Chị cũng đã nhìn thấy những nấm mồ chôn vội vã bên cạnh chúng tôi. Với một nấm mồ có gì để đáng nói! Nhưng với chúng tôi đó là những nấm mồ mà chúng tôi đã đắp cho bạn bè bằng tất cả tình huynh đệ thân thương … Chị đã thấy trong những đêm mưa tầm tã lẫn lộn với pháo rơi, chúng tôi đã phải mò mẫm từng tấc đất trong bóng đêm để bới những cái hố nhỏ chôn mình tránh pháo rồi mới đào những huyệt lớn để chôn xác bạn sau. Chúng tôi đã xem thường cái chết trong lúc chiến đấu một mất một còn với địch bao nhiêu thì quý xác bạn bè khi nằm xuống bấy nhiêu. Ðôi khi thật vô lý – khi một người chết lại phải mất thêm một vài người sống cũng chỉ vì một cái xác không hồn. Nhưng tình cảm riêng của chúng tôi, nó có lý lẽ riêng của nó… và chúng tôi đã tồn tại được trong gian nguy khắp chiến trường dạo đó, một phần cũng nhờ vào tinh thần đồng đội. Có lẽ ở đây chị cũng đã nhìn thấy được ở chúng tôi điều mà chúng tôi đã không thấy. Ðó là thân phận nhỏ nhen của một người lính khi sống cũng như lúc chết và sự hy sinh hào hùng lớn lao của họ mà thế nhân ít kẻ thật sự nhìn thấy. Lẽ dĩ nhiên đôi khi chúng tôi cũng được ca tụng, khen ngợi, có lúc cũng phải thẹn thùng bởi vì nó đã vượt quá điều chúng tôi nghĩ, chúng tôi làm. Và, chị là một - một chứng nhân cho sự sống chết và hy sinh bên nhau của chúng tôi. Nếu chúng tôi là những tên giác đấu khô cằn sắt đá, chỉ biết đi tới trong bước chân Robot người máy, hoặc quay lưng lại chạy trước, quên sau, không cần biết bạn bè chiến hữu thì chúng tôi cũng đã tự huỷ diệt từ lâu. Và bây giờ cũng chẳng còn gì để nói với nhau, với chị … Trong cái nhìn của chị về chúng tôi, cũng như đã cảm nhận được những gì mà chúng tôi đã có. Cái đau hành xác của vết thương thiếu thuốc. Cái chết lơ lửng trước mắt trong lằn đạn địch bắn tới. Cái “lạnh cẳng” khi đôi chân vướng vít giữa những lằn đạn bắn ngang dọc, và nhất là tiếng nổ của viên đạn pháo rơi kề cận, là một điều thật hiếm hoi làm cho chị phải nhớ mãi. Bởi những trường hợp như thế này ít khi còn dịp để cho mình nhớ lại cảm giác lúc dầu. Vì mình sẽ không còn nữa, và không biết linh hồn có mang theo để nhớ lại ở đâu đó không? Chị cũng đã từng chung niềm vui với chúng tôi trong những khi chiến thắng và cũng đã cùng buồn trong những lúc chiến bại. Chị là chiếc bóng kề cận, là chứng nhân, là chiến hữu của chúng tôi. Dù không súng đạn ba lô, không mang cấp bậc số quân, không ai tuyên dương chị, nhưng chính chị đã tuyên dương chúng tôi, đã khiến cho mọi người nhìn thấy chúng tôi trên khắp chiến trường giông bão chống giặc Bắc phương ngày đó qua “An Lộc địa” của chị và mãi cho đến bây giờ hoặc mai sau.

Hơn 20 năm qua, chị nghĩ chúng tôi, những người lính đã sống và chết trong trận mạc còn gì. Tôi không nghĩ sự hy sinh của chúng tôi hay Việt Nam còn gì? Còn chăng đó là một sự mất mát không tìm lại được cùng với những nỗi cay đắng nhọc nhằn mà người sống đã phải gánh chịu cùng với vết tích của người chết cũng chẳng còn. Ngay cả những ngôi mộ vốn dĩ đã mang tiếng là “mồ viễn xứ” dù quanh năm nhang tàn khói lạnh cỏ mọc mồ xanh, nó vẫn là một ngôi mộ. Tên tuổi, ngày tháng sinh, tử vẫn in vết trên bia dẫu đã rêu phong cát phủ. Vết tích khiêm nhường của một người lính chừng đó còn lại trên cõi trần đời. Thế mà, tàn cuộc chiến mồ hoang cũng chẳng còn. Sự thù hận Nguyễn Ánh - Tây Sơn mấy trăm năm lịch sử được lật ngược để đào mồ cuốc mả trả thù. Dù là mồ mả của một người lính súng dài không quan tước, quyền hành. Tôi chợt nhớ đến tượng người lính màu đen bên đường xa lộ Biên Hoà, mà xưa kia ai qua lại cũng phải ngó, phải nhìn với thoáng suy tư trầm mặc, cũng như đã có biết bao điều hư thực đã được người ta đồn đãi chung quanh tượng người lính này. Chuyện đêm đêm người lính rời bỏ bục ngồi lang thang đi dạo dọc theo xa lộ, vào nhà dân xin nước, chờ khách qua đường để xin lửa hút thuốc, v.v… những câu chuyện mà thường nhật của một người lính đang sống thường làm vô thưởng vô phạt mà đôi khi còn được coi là dễ mến dễ thương. Tôi không hề nghe kể chuyện tượng lính đó đã gây ra những điều huyền bí kinh dị, sợ hãi cho một ai. Nay cũng được tròng dây kéo đổ - thật khó coi - nhưng cũng thật tàn nhẫn. Cũng như di vật của em tôi - một phi công - tấm thẻ bài, bộ đồ bay không nghĩa gì cả - cũng được gọi là “giặc lái” mang ra xiềng xích trưng bày, phỉ nhổ … Tôi không hiểu nổi - vật của người chết có hồn hay hồn của người sống vô tri …

Tôi đã lang thang qua những nghĩa trang Bắc Việt, Mạc Ðĩnh Chi để nhớ lại một thuở nào kỷ niệm học trò đi tìm im vắng. Giờ đây, trong nỗi buồn vô vọng của kẻ mất cuộc sống, tôi trở lại chỗ này chỉ thấy toàn hố trũng hoang tàn đổ nát. Tàn tích của một sự bới móc không khoan nhượng. Tôi cảm thấy thấm thía cho một sự đổi đời. Nước mất nhà tan mồ mả chẳng còn.

Một mai nếu có dịp trở về An Lộc, tôi nghĩ chị sẽ thấy lòng trĩu buồn bởi những đổi thay mất mát không ngờ… Chị sẽ như tôi lạc lõng lang thang trong tiềm thức, trong vọng tưởng để tìm lại những tàn tích dĩ vãng trên mảnh đất này năm xưa. Rồi một sớm mai sương mù giăng kín không gian hay một chiều nắng nhạt nào đó, trên đường về quanh co nẻo vắng hay trong gió lạnh sương mai. Biết đâu bất chợt trong mơ tưởng chị sẽ gặp lại những gì mà chị đã lãng quên trong cuộc sống hôm nay và chị sẽ thấy thời gian không phải là mồ chôn dĩ vãng. Vì vậy mà tôi đã sống với những kỷ niệm đang sống trong tôi.

Ngày đó, tôi đã biết chị nhưng không biết tên. Qua câu chuyện của bạn bè nói về một thiếu nữ bị pháo gẫy chân. Chuyện đó có gì lạ với chiến trường này. Nhưng một chút ngạc nhiên cũng đã đến với tôi là từ ngày chúng tôi đến đây - trên phòng tuyến này - bạn bè chúng tôi cũng đã chết nhiều nhưng chưa nghe nói một người dân nào trốn giặc bên chúng tôi bị nạn cả. Sao nay lại có chuyện này. Tôi chưa kịp hỏi mà chỉ lơ đãng hình dung về chị, về hình ảnh của một người thiếu nữ gẫy chân. Lòng tôi trơ cứng như hồn đá sỏi, chẳng một chút xúc cảm nào mang nghĩa xót thương. Bởi ở đây tôi đã quen lắm chuyện đau thương mà bình thường chắc cũng không khỏi mủi lòng cũng như quen mùi xác rữa của địch rải rác trước phòng tuyến mà bình thường chắc cũng thấy hôi tanh.

Viên đạn pháo nổ tung mái ngói trên chổ tôi ngồi đưa tôi trở về thực tại rời khỏi thoáng chốc vu vơ. Tâm trí tôi lại trở về với máu lửa của những trận đánh kế tiếp. Tôi đã quên đi chuyện này như chuyện chiêm bao ngủ gật. Bởi ở đây có biết bao chuyện lạ đời để mãi mãi không nhạt nhoà trong tâm tưởng.

Ngày đầu tiên tôi vào đây, trong căn nhà bên kia lò bánh mì, tôi đã gặp một em bé chưa đầy tuổi thôi nôi, nằm giữa một chiếc giường chăn xô gối lệch. Em đang an giấc trong lời ru của ruồi nhặng, mắt môi đầy ắp những sinh vật mới sinh. Tôi sững sờ không phân biệt được em là trai hay gái. Lòng tôi rưng rưng lẫn buồn nôn. Tôi quay ra như trốn chạy một điều gì, rồi mãnh lực nào đó, đã giữ tôi lại, cúi xuống kéo tấm chăn phủ kín người em. Ðàn nhặng vù lên như một sự phản đối gớm ghiếc. Vĩnh biệt em. Một thời ngắn ngủi làm người trong chiến tranh, ly loạn cũng như chuyện một đêm, người thiếu phụ bật tiếng rên la từ một góc phố cùng với trận đánh bên ngoài. Người y sĩ đã bỏ việc cứu thương, cứu lính để tìm người thiếu phụ, làm việc cứu dân. Dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu không đủ sáng hết căn phòng nhỏ bé, người thiếu phụ đang chuyển bụng. Một việc bất ngờ đối với người y sĩ vừa mới về đơn vị này. Xưa nay trên chiến trường chỉ có tử chứ không có sanh, nhưng đây cũng là một chuyện lạ bất ngờ. Người y sĩ chỉ quen cứu chữa những vết thương bom đạn, bây giờ trước vết thương này - vết thương sinh tồn của giống nòi, đã khiến cho người y sĩ phải bỡ ngỡ và người y sĩ đã làm hết sức mình để cứu mẹ con người thiếu phụ thoát khỏi cơn nguy nan của một lần “Vượt biển” đầu đời giữa cảnh phong ba bão lửa này. Ðối với người thày thuốc thì việc tận lực cứu dân hay cứu lính không quan trọng mà cứu người là thiên chức của họ. Nên đã không phân biệt vết thương của bạn, thù hay dân, lính. Rồi em bé cũng ra đời để mang tên của người thày thuốc - Ân nhân cứu tử của mẹ con em. Tôi không hiểu em bé có cất tiếng khóc để chào đời, chào cuộc chiến hay đã im lặng như cảm nhận thảm hoạ chiến tranh để cùng mẹ cha nhẹ gánh chạy giặc.

Tôi cũng đã đi qua trận đánh phía Tây trong đêm tối hãi hùng - lẫn lộn trong điêu tàn xụp đổ xác người, thú - những viên đạn B41 xanh biếc, lập loè cắt rách màn đêm như điềm báo tử thần quanh đây cùng với những âm thanh đạn pháo, xé rách không gian hứa hẹn bao điều thảm hoạ phía sau. Cảnh huyên náo của chiến trường trong đêm tối, đã thôi thúc chúng tôi đi tới trong thách thức cùng với gian nguy, để lùa địch ra khỏi vòng đai của thành phố và sáng hôm sau chúng tôi đã đổi được chỗ của kẻ chiếm đất để giữ lại đất.

Chiều ngày 18/04 chúng tôi đã đến từ ngoại biên Ðông Nam của thành phố. Nhìn vào trận địa trước mặt, như một canh bài đã được bày sẵn trên chiếu bạc mà tẩy đôi bên là xương máu, súng đạn. Ðịch dửng dưng đứng nhìn chúng tôi như một người chủ mất dạy ra tiếp khách. Tôi nghĩ họ đã đánh giá chùng tôi như những con cừu non hiền lành đang dấn thân đến gần miệng sói lang. Ðịch quân đông, pháo nhiều, lại trong thế thủ. Còn chúng tôi quân ít, vũ khí nhẹ, trận địa không quen, lại thêm đường xa mới tới. Ðịch đang trên thế thắng - chúng tôi trong tình trạng thể chất mỏi mệt. Sự tương quan chênh lệch giữa đôi bên đã khiến cho địch xem thường chúng tôi. Và không cho phép chúng tôi được quyền chủ quan, dù bất cứ một chủ quan khiêm nhường nào đi nữa - thế yếu - chúng tôi phải đổi thắng bại bằng dũng cảm và hy sinh nên đã không cho phép chúng tôi quên “Tiên hạ thủ vi cường”. Ðịch không ngờ chúng tôi đã đánh sau vài tiếng đồng hồ khi màn đêm vừa buông xuống. Họ cũng không ngờ chúng tôi lại là những người lính tinh nhuệ trong bóng đêm. Một chiến thuật đã làm cho đơn vị chúng tôi vang danh trên khắp chiến trường - là khắc tinh của bám trụ của kiềng, chốt mà một thời địch đã tự hào là một chiến thuật ưu việt của họ. Chúng tôi đi đến đâu, kiềng chốt bám trụ của họ tan tành đến đó. Mậu Thân 68 ở mặt trận Gia Ðịnh là một. Người ta đã biết chúng tôi qua chiến thuật này cùng với những lời ví von biến hai chữ Biệt Cách thành “Bird cat”, một loại chim mà Phương Tây đã lấy làm biểu tượng cho điều đáng kính và mang ơn - Cú Mèo - Quả thật tôi cũng không ưa. Người Á Ðông vẫn cho rằng nó là biểu hiện của điều hung hiểm. Khi có chim cú đến nhà là điềm báo tang tóc, bại vong. Ðêm nay chúng tôi đã đến - hẳn là địch đã không tin. Một trận đánh mà địch đã không lường trước được sự thảm bại lại thuộc về mình để từ đó, đổi lại ưu thế tinh thần thuộc về chúng tôi trong các trận đánh sau này. Ðiều cấm kỵ trong lúc giao chiến mà nể sợ địch, chính đó là sai lầm của chúng.

Bóng đêm tan dần, mặt trời lên. Quang cảnh trận địa thật thê lương ảm đạm. Ruồi nhặng thức giấc vo ve reo mừng máu bầm, máu tươi, thịt mới cũ la liệt khắp nơi. Ba đêm không ngủ - đôi mi trĩu nặng ngàn cân. Tôi cố nhướng lên cùng với ý nghĩ lo âu sợ địch phản công. Nhưng vô ích, tôi đã ngã gục xuống ở một góc hiên nhà… Tôi tỉnh dậy giữa tiếng pháo xa, gần quanh chúng tôi. Ðịch bắt đầu pháo vào trận địa… Chỉ có đạn rơi và pháo nổ, nơi đây chẳng còn một ai - ngoại trừ chúng tôi và ruồi nhặng.

Trưa mùa hè nắng hạ, mùi thịt da sình thối quyện đặc không gian, đã khiến chúng tôi thở tưởng như Oxy cũng nhuộm máu. Và thật bất ngờ, tôi đã gặp hai vợ chồng cụ già nơi này - ở một xó bếp. Ông cụ ngồi dựa lưng trước cửa một căn hầm nổi bằng bao cát và thùng phi chứa đất. Người vợ đang ngồi nhen lửa trong bếp gần đó. Chắc họ cũng vừa mới chui ra khỏi hầm, chắc họ cũng đã thức suốt đêm qua? Tôi đến gần chào họ - vẫn im lặng. Tôi chào lần nữa, ông cụ vẫn bất động nhìn thẳng ra trước mặt. Tôi chưa kịp thắc mắc thì tiếng bà cụ vang ra mà chẳng cần quay lại “ổng mù và điếc đó!”. Tôi cứ tưởng là bà cụ nói chuyện với ông táo. Tôi cúi nhìn vào đôi mắt ông cụ. Ðôi mắt của người “ngủ ngày”. Thái độ và giọng nói của bà cụ, tôi hiểu họ không muốn thấy gì trước mắt, không muốn nghe gì bên tai. Dù là tiếng đạn hay tiếng bom. Họ đã tự thoát ra khỏi trần đời, thế sự, nên con người hay sự vật chung quanh không còn lệ thuộc thế giới của họ. Không muốn làm phiền họ, tôi quay ra với những ý nghĩ không vui.

Hai tháng sau, có dịp tôi đã trở lại nơi này. Chẳng còn một thứ gì nguyên lành, ngay cả mùi hôi thúi ngày nào cũng chẳng còn. Căn nhà bếp, nơi tôi gặp hai vợ chồng ông cụ cũng chẳng thấy. Nhưng căn nhà hầm thì vẫn còn đó với trăm thứ, cột kèo gạch ngói phủ lấp lên trên. Hình ảnh hai ông bà cụ cứ chờn vờn trước mắt đã khiến tôi chui vào hầm. Ánh sáng không đủ cho tôi thấy rõ lòng hầm nhưng rõ ràng hai bộ xương một nằm một ngồi dựa vách đã khiến cho tôi sững sờ và rờn rợn khắp người. Tôi cố nhìn họ một lần nữa cũng chỉ thấy hai bộ xương mà chẳng thấy gì trong tâm trí mình. Tôi chui ra với những ý nghĩ rã rời cùng với mùi hôi hăng hắc khó chịu của xác người chết khô.

Trời chợt đổ cơn mưa. Cơn mưa nhẹ của chiều tháng sáu đã làm cho lòng tôi càng thêm quay quắt trong nỗi buồn.

Tôi trở về chân đồi Ðồng Long. Nơi đây trận đánh cuối cùng của chúng tôi vào ngày 12 tháng 06. Ðịch đông gấp nhiều lần. Trận đánh kéo dài từ sáng sớm cho đến chiều, không ăn không nghỉ. Xác một Mỹ, một Cứ … nằm dài trước mặt tôi năm ba thước mà mới đêm qua còn nằm bên nhau xầm xì to nhỏ, những chuyện không đầu không đuôi của lính, chuyện buồn vui của gia đình, của người thân, chuyện ngày qua và mai sau … Thế mà bây giờ thì nằm đó, giữa những họng súng địch canh giữ, ai sẽ đưa các anh về? Không bỏ chiến tuyến không bỏ xác bạn, đó là điều khẳng định của chúng tôi. Ðịch cũng hiểu rõ điều này nên đã không bỏ công canh chừng …

Trời chiều nghiêng bóng, lòng tôi như lửa đốt, cổ khô đắng bởi mùi thuốc súng và khói bụi. Tôi nằm ngửa canh chừng những quả đạn 81 bay lên từ chợ Mới vẽ thành những đường cung mường tượng trong không gian khi viên đạn bay qua để xem may rủi giữa ta và địch. Khoảng cách an toàn giữa điểm nổ và quân bạn đã không dành cho chúng tôi trong trận đánh này, và cứ mỗi lần thấy viên đạn bay lên không bình thường, tôi lại phập phồng không đoán được nó sẽ rơi vào chỗ nào? Rồi nhắm mắt lại để tưởng tượng nó sẽ rơi ngay vào đầu mình… Chúng tôi đã chấp nhận đạn rơi cách chúng tôi đôi ba thước ở thời điểm nổ chậm nên có thể chôn vùi chúng tôi trong cát bụi, nhưng buộc địch phải bỏ những chiếc áo giáp chữ A, chữ Z sát cạnh chúng tôi năm ba thước để chúng không còn cơ hội kiên trì bám dính chúng tôi nữa. Rồi một Thể lao thẳng qua phòng tuyến địch bắn phá, coi đạn địch bay ngang dọc như rơm rác, như giấy hoa. Mắt tôi mờ đi bởi những hình ảnh dũng cảm của bạn bè - một Thiện ngày nào trong trận đánh tái chiếm khu cảnh sát. Bàn tay phải bị bắn đứt, Thiện vẫn tỉnh táo dơ lên để máu bớt chảy, tay trái kẹp súng bắn trả như vừa cầm đuốc vừa bắn giữa cảnh mịt mù khói bụi. Một Y Muih MLOR tay ướt đẫm máu tươi đứng trên nắp hầm địch mặt vẫn tỉnh bơ như thể chẳng có gì xảy ra trên thân thể mình và mới sáng nay Vosary bị địch bắn bay hàm dưới vẫn đứng chỉ tay về phía hầm địch để báo cho bạn bè. Người đen, máu đỏ đầy miệng, đã khiến cho mấy thằng Việt Cộng con không khiếp đảm cũng phải rùng mình. Những hình ảnh đó đã thể hiện một phần nào cái dũng của Biệt Cách Dù mà chỉ có trong nguy nan mới thấy được. Tôi hãnh diện đã có những người bạn như thế đó đã làm rạng danh cho đơn vị một thời. Ðịch cũng đã đoán được “cơn nước lũ” chúng tôi sắp tràn qua và thể như môt điềm báo trước để địch phải tháo chạy.

Bóng chiều tắt dần - trong im lặng không tiếng súng. Chiến trường như bãi chợ chiều, ngổn ngang súng đạn cùng xác chết. Chúng tôi đã không ồn ào hò reo chiến thắng. Chúng tôi không nhìn thấy những chiến tích trước mặt mà đã im lặng nghĩ nhiều đến những bạn bè đã hy sinh, đã nằm xuống trong trận đánh để đời này.

Cơn gió lành lạnh thổi qua mang theo những tia nắng cuối cùng trong ngày chìm dần vào màn đêm giữa sự im lặng ngẩn ngơ của chúng tôi.

Một ngày đã qua với bao máu và mồ hôi đã đổ xuống - với địch ngày nào đã rầm rộ đi vào, bây giờ mới đó đã phải tan tác tháo chạy tìm sống trong số phận rủi may. Chẳng bù lại ngày 14/04 đã tràn vào thành phố như chỗ không người. Ngạo nghễ, kiêu căng trên những chiến xa, giữa sự trốn chạy hãi hùng của người dân. Nhưng giờ đây vết tích còn đó; hàng trăm chiến xa nối đuôi nhau bị bắn hạ khắp nẻo đường phố. Họ đã mất đi sự tự kiêu, tự mãn lúc ban đầu. Giờ đây chỉ còn mong lấy thịt đè người, 4 sư đoàn 5, 7, 9 và Bình Long khoá đầu chặn đưôi tận lực vây hãm. Nhưng An Lộc đã không mất trong cơn hấp hối thì địch còn mong làm được gì trong sự hồi sinh dũng mãnh của quân trú phòng. Bọn giặc Cộng lâm vào cảnh tiến thối lưỡng nan rồi tự tan rã trong sự phản công quyết định của đơn vị tham chiến. An Lộc đã trở thành một biểu tượng cho sự dũng cảm và hào hùng của quân đội Miền Nam.

Tôi đứng trên lưng đồi phía Bắc để nhìn ngược về phía Nam, về chợ Mới. Dãy phố quen thuộc trong 60 ngày qua xa trông như vẫn nguyên lành duy nhất còn lại chung quanh dổ nát. Một chút tự hào đã thoáng đến với tôi. Tôi chợt nghĩ đến những thành quách xa xưa - dãy phố chơ vơ nhỏ bé nằm giữa hai góc đường đó như một ốc đảo trong sa mạc khói lửa đã qua. Những vết đạn lớn nhỏ loang lổ khắp cùng bởi bao lần bị bắn phá bị tấn công, nó đã trở thành một thứ anh hùng hảo hán thân mang đầy thương tích mà vẫn khí phách ngang tàng đứng vững giữa trận địa. Nó không còn là một dãy phố thương mại bình thường của thương nhân, mà nó đã trở thành một thứ Thành Quách sắt thép của 81 - chỗ dựa cho đại pháo Navaron và nó còn là một chứng tích mà tự nó đã nói lên biết bao chiến tích hào hùng của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù chúng tôi.

Tôi trở về để gặp hai em bé trên dưới 10 tuổi đã sống hơn 60 ngày dưới hố sâu, hầm tối ở chân đồi Ðồng Long. Ngày ngày không cơm gạo, không nước uống giữa vùng đất địch đóng quân. Em kể, đêm đêm đã lén bò ra ăn cỏ uống nước hố bom. Nhìn hai em nửa người nửa vật, nửa trẻ nửa già – nhìn hai em như tượng đồng đen thời cổ, như tranh vẽ trừu tượng thời nay. Hai em nhìn chúng tôi trong hố mắt lạc lõng, xa lạ. Chúng tôi nhìn hai em với nỗi buồn xót xa.

Lần cuối cùng tôi gặp chị, nhưng nay vẫn khó quên. Thật ra thì tôi chẳng nhớ gì về chị cả, nhưng tôi đã khó quên vì cảnh gặp chị. Ngày đó, tôi đi giữ bãi tải thương ở Xa Cam, và được lệnh phải để ý đến chị. Tôi đã không vui với điều này bởi chị không là gì cả. Không bạn, thù, chiến hữu. Tôi muốn dành chỗ của chị cho một thương binh. Dù là một ý nghĩ hẹp hòi, nhưng đó cũng là sự thật ở lòng tôi lúc bấy giờ. Tôi lơ đãng nhìn chị để xem người thiếu nữ bị thương đêm nào mà tôi dã từng nghe bạn bè nói đến. Chị mặc Quân Phục của đơn vị chúng tôi nằm dài trên một chiếc ghế xếp thay vì băng ca. Tôi thoáng thấy sắc diện chị lợt lạt trong nắng vàng lẫn bóng lá xanh của cao su. Vì không ưa nên tôi cũng không nhìn nhiều để biết chị đẹp hay xấu mà tôi chỉ nghĩ chị nằm đó đang nghĩ gì? Chị có hiểu không, khi tàu tôi tới sẽ “chở” theo đạn pháo của địch tới. Chị hớ hênh chân co chân duỗi nằm đó! Chung quanh không bờ đất che chở, không gốc cây ẩn nấp. Liệu chị có thoát khỏi một lần nữa bị thương hay làm “danh tướng” không? Và thần thánh nào sẽ che chở cho chị qua khỏi cơn mưa pháo này? Tôi đã hồ đồ nghĩ về chị trong cái nằm của một người lính ngoài mặt trận. Giá mà biết được ý nghĩ của tôi ngày đó - nếu không giận chắc chị cũng kém vui, phải thế không? Có thể chị đang lo âu về những điều tôi đang nghĩ cũng có thể chị đang bận nghĩ đến một viễn ảnh vui hơn - được đưa lên tàu đáp xuống Lai Khê. Chị sẽ thoát nạn - về Sài Gòn vào bệnh viện, chị sẽ bình phục lại như xưa. Rồi chị sẽ mặc áo mới màu thiên thanh cùng bạn bè lang thang dạo phố Bonard, qua Pasteur ăn fá lấu, uống nước mía Viễn Ðông, về nhà xem TV chiếu chuyện chiến sự … Chị sẽ quên đi những tháng ngày dài bầm dập ở địa ngục An Lộc, như quên một giấc mộng hãi hùng trong đời. Hay có nhớ, những muỗng cháo cơm nặng ân tình của anh Kiên. Hay có nhớ, một thời lộng lẫy đón đưa của chị ở An Lộc trước chiến tranh? “An Lộc địa” của chị rồi cũng sẽ qua đi trong xa cách ngàn trùng, mà bất cứ ai dù lính hay dân cũng đều muốn thoát chạy, rời bỏ… Chúng tôi cũng vậy - cũng chỉ mong cho tất cả mọi người dân nơi đây được bình yên rời khỏi nơi đây. Bởi ở lại cũng chỉ chuốc lấy thêm phần thương đau mất mát trong bom đạn vô tình may rủi mà thôi.

Tôi đứng dựa lưng gốc cao su chờ đợi tàu đến cùng vẩn vơ với những ý nghĩ không đầu không đuôi về chị, về tha nhân, mà quên mình cũng chỉ là một con người - như mọi người, đang sống trên cõi đời này - lòng cũng đầy những vướng mắc bận bịu bởi những tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố … cùng với bản năng sinh tồn của một sinh vật nên hẳn chị đã không tin khi tôi nói: Chúng tôi đã không bận tâm đến hai chữ sống chết khi đối diện với họng súng của địch. Nhưng nếu không xem thường cái chết để chờ “sung rụng” chờ “bất chiến tự nhiên thành” thì chúng tôi khó mà có chiến tích để chị viết thành thơ… Tôi mơ màng trong thực và mộng để rồi chợt tỉnh trong âm vang tiếng động con tàu cùng với âm thanh bắt đầu của pháo địch bắn đi. Tôi nhìn về phía chị, về phía bạn bè của chúng tôi với ý nghĩ chợt đến: trận mưa này liệu có “ướt” ai không ? Rồi quên đi chị nằm đó trong cảnh hỗn loạn của bãi đáp - vừa chặn bạn, vừa phòng thủ .. tôi không nghĩ gì hơn là phản ứng với những điều chớp nhoáng đến với tôi trong đầu. Tiếng trực thăng lớn dần từ trời cao - cây rừng xôn xao gãy đổ trong tiếng đạn nổ. Ðoàn tàu rải dài trên khúc quanh con đường, hai bên ngổn ngang đầy dẫy xác người và chiến cụ … phút chốc rồi lại nối đuôi lên cao … chẳng còn ồn ào trên bãi đáp, chẳng còn lo lắng ở lòng tôi. Tôi nhìn theo đoàn tàu xa dần vào chân mây …

Rồi ngày tháng qua đi chị cũng xa vắng trong tâm tưởng chúng tôi. Chúng tôi không còn dịp nghĩ nhớ đến chị ở những chiến trường nối tiếp. Dẫu chị mới đó đã từng sống chết bên chúng tôi, dẫu chị mới đó đã từng giúp chúng tôi đôi lời ghi dấu tích đơn vị trên đài chiến sĩ trận vong. Ai qua An Lộc, khi về chắc cũng không quên những lời này, mà chị đã để lại cho chúng tôi sau trận chiến. Người đời sẽ nhắc đến chị hay chúng tôi cũng chỉ là một - nếu người ta để chút thừa hơi thở mà nói đến hai câu thơ này - người lính Biệt Cách Dù và thiếu nữ tên Pha - một bóng kiều diễm - mà một thời chị đã tự mãn với hai chữ “dáng tiên”, một thời có lắm kẻ mất ngủ quên ăn vì chị, có đúng không?

Sau đó, ngày về của chúng tôi từ An Lộc - rượu uống chưa kịp say đã phải ra đi. Hết Quảng Trị, Cổ Thành, Thạch Hãn đến Cao Nguyên “gió núi mây ngàn”, khi miền Tây Bà Ðen, Suối Ðá, lúc Miền Ðông Rừng Lá, Phước Long, chúng tôi đi không nghỉ - mặc cho tháng năm vợ đợi, con chờ, mẹ ngóng, cha trông … mặc cho người tình cô đơn dạo phố mùa Ðông. Chị thấy đó, trước mặt chúng tôi là sông, là núi, là địch là thù, sau lưng là nợ, là tình. Chúng tôi quay cuồng trong cuộc sống chiến chinh với tháng ngày qua mau. Chúng tôi nào biết mùa Hè nắng lửa ve kêu, mùa Thu ru lá ngủ trên cành, Ðông tàn rồi lại sang Xuân. Nếu có chăng khi lên đỉnh Bigmama ngồi ngắm B.52 thả bom chặn địch lúc xuống Charlie nghe âm vang quân bạn hò reo giết giặc, hay qua Chu Pao ngậm ngùi nhớ núi, nhuộm màu khăn tang. Rồi ra Quảng Trị vào Cổ Thành … ngày đến đội pháo thay mưa, đêm đêm chiêm bao vua Chiêm về đòi Ô Lý … Ðời sống của người lính Biệt Cách Dù là vậy đó, chị thấy không?

Chắc chị còn nhớ “Cư An Tư Nguy” chứ? Nên chúng tôi đã không bận tâm cho tương lai trên đường chinh chiến mà chỉ mơ một ngày mai được sống trong cảnh thanh bình của đất nước.

Chiến trường rồi cũng qua đi trong giông bão. Ngày tàn cuộc chiến chúng tôi vẫn chưa được sống với giấc mơ. Chúng tôi lại phải ra đi để vào cuộc chiến mới. Cuộc chiến của khổ nhục và lưu đày. Sau bao năm sống trong từng ngày, đói trong hơi thở, ăn trong giấc mơ và nhục chung tên cùng “tội phạm” đó.

Ngày được thả về tôi lại phái vác cuốc đi đào mả con, mả anh để trả đất lại cho người ta cất nhà, cất chợ … Bây gìờ trên đường lang thang, kiếm sống nương nhờ … dù không lo đói, mặc, nhưng lòng vẫn thấy lạnh khi Xuân sang. Con đường không chọn lựa mà phải đi - cuộc sống không mơ ước mà phải sống - nên tôi vẫn thấy nhớ Nước lạ lùng! Chị biết không: “Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn …”. Xưa kia tôi vẫn thấy dửng dưng với câu hát này, mà nay, có đôi khi tôi đã sợ không dám nghe. Tôi đã giận tôi, giận sự yếu mềm trong lòng mình. Nhất là trong những khi lang thang lạc lõng trên đường vắng - tiếng vọng chân đi mà cứ ngỡ bước chân người thân, hay trong những đêm giá buốt như đêm nay đã có bao điều đến với tôi - để rồi dù có muốn chối bỏ đi những gì không hợp lý, không thực tế trong thực tại tôi vẫn không ngăn được tiếng thở dài.

Ở đây như một thiên đàng cho bao nhiêu kẻ nghèo đói của các dân tộc sống trong chiến tranh và áp bức. Tôi là một - đến từ chế độ cộng sản, đến từ nghèo đói miếng ăn và nhân quyền, tự do, mà cho rằng không thoả mãn hạnh phúc, không vui… thì thật không thực tế chút nào phải không chị?

Ở Việt Nam tôi cũng chẳng còn gì. Nhưng với những hình ảnh thật tầm thường - có lúc ta như muốn chối bỏ, lãng quên khi nhìn vào cuộc sống văn minh tiến bộ của nước người … có lúc ta đã thực sự đau lòng cho sự nghèo nàn sơ sác của một dân tộc - của một đất nước - của Việt Nam mình. Có nghĩa gì “chiếc cầu tre chênh chênh nhỏ bé …” hay “căn nhà tranh mặc gió lung lay …”. Nhưng nó đã không có trên đất nước này. Trong đời sống văn minh tiến bộ của người ta, mà nó lại tồn tại vĩnh viễn trong tôi. Nên nó đã khiến cho tôi dễ bị cảm xúc hơn là đi qua Golden Gate hay vào Sears Tower là những kỳ quan của thế kỷ. Tôi đã đến nơi này để chiêm ngưỡng - nhưng cũng chính là để vọng tưởng nhớ nhung. Tôi cũng đã nhìn tượng Nữ Thần Tự Do, để thấy mình cũng tự do thế thôi. Không hiểu một mai sẽ có gì thay đổi trong tôi? Còn với hiện tại, tôi đã nghĩ : Giá Việt Nam không còn chế độ Cộng Sản - không còn những tên Việt Cộng ngu dốt và ác độc - không còn bất công và áp bức - có lẽ tôi sẽ trở về dù chỉ để làm một ông câu nghèo nàn, sáng cơm chưa no, đã lo chạy gạo tối. Hay cùng lắm, làm một con chim cú già hèn mọn để được đậu cành tre trên Quê Hương mình.

NGUYỄN SƠN (Hoa Kỳ 21-03-1994)

 

Còn nữa - muốn đọc các kỳ trước, quý vị vào mục "An Lộc Sử" đặt trong phần "ĐÔNG PHƯƠNG" ngay trên trang 1 của Website này – xin đón đọc tiếp]

 

Ghi chú: Tất cả sơ đồ & hình ảnh trận chiến An-Lộc đều có đầy đủ trong bộ CD sử liệu "Chiến Thắng An Lộc 1972" do An-Lộc Foundation ấn hành. Quý Vị muốn được gởi biếu tận nhà CD sử liệu này, vui lòng gởi Tiền Bưu Phí về: An-Lộc Foundation P.O.Box 18104 Seattle, WA 98118-0104 USA. Bưu Phí gởi hộp CD "Chiến Thắng An-Lộc 1972" tuỳ theo quốc gia cư ngụ như sau: * Tại các tiểu bang Hoa Kỳ: 3.50 Mỹ kim (US$3.50) * Tại các quốc gia khác: 8 Mỹ kim. Mọi thắc mắc, quý vị vui lòng email tới: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it .

 

 

 

 

 

Last Updated on Wednesday, 17 December 2014 20:07
 

Sổ Vàng

An-Lộc Foundation