Font Size

Profile

Menu Style

Cpanel
Tác giả "Hoa trắng thôi cài trên áo tím" đã vĩnh viễn ra đi. PDF Print E-mail
Written by Editor   
Sunday, 09 November 2014 20:44

alt

Phân Ưu.

Nhận được ai tín:

Thi Văn Sĩ, Soạn Giả Cải Lương Kiên Giang Hà Huy Hà

(nguyên Chủ trương Chương trình thi ca Mây Tần trên Đài phát thanh Saigon trước 1975, Tác giả bài thơ phổ nhạc bất hủ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”) đã tạ thế ngày 31 tháng 10 năm 2014 (nhằm mùng 8 tháng 9 nhuận, năm Giáp Ngọ) tại Saigon, Việt Nam. Hưởng thọ 87 tuổi.

Cơ Sở chúng tôi thành kính phân ưu cùng đại tang gia Thi văn hữu Kiên Giang. Nguyện cầu Hương Linh “người anh văn nghệ” chúng tôi sớm tiêu diêu miền cực lạc.

-         HĐQT Cơ Sở Văn Hóa Đông-Phương

-         Giải Quốc Tế Tượng Vàng Việt Nam

-         Tổ Chức Văn Chương Phụ Nữ Việt Nam Toàn Cầu

-         Ban Giám Đốc Global Saigon HD Radio.

Đô thị Seattle, Cao Nguyên Tình Xanh Washington, Hoa Kỳ.

 

HOA TRẮNG THÔI CÀI TRÊN ÁO TIM KHÔNG CÒN NỮA.

* Phạm Trần.

Nhà Thơ, Sọan Gỉa Cải Lương Kiên Giang Hà Huy Hà, một trong số ít bạn làm báo người miền Nam của tôi không còn nữa. Anh ra đi bất ngờ ở tuổi 87 vào rạng sáng ngày 31/10/2014, sau một cơn đột qụy tại Sài Gòn.

Tên thật của Kiên Giang là Trương Khương Trinh sinh tại làng Đông Thái, huyện An Biên, Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang ngày 17-2-1927. Ông là Tác gỉa của Bài Thơ tình lịch sử có thật của chính ông mang tên “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím”. Bài Thơ này đã được Nhạc sỹ Huỳnh Anh phổ Nhạc và đã được nhiều thế hệ Ca sỹ hát từ trước năm 1975, trong đó có tiếng hát não lòng Hòang Oanh.

Tôi và Kiên Giang quen nhau thật tình cờ khi tôi được ông Chủ nhiệm báo Tia Sáng, Nguyễn Trung Thành mời cộng tác.

Vào thời kỳ 1960-1970, chuyện một Ký gỉa trẻ gốc Bắc được chen chân vào một báo nổi tiếng lâu năm của người miền Nam như tờ Tia Sáng không phải là chuyện thường xẩy ra. Cũng như chuyện Ký gỉa gốc Nam vào làm cho một tờ báo của chủ nhiệm miền Bắc ở Sài Gòn, tuy không hiếm nhưng cũng không thường xuyên.

Chuyện này thực ra không có một mảy may lý do chính trị hay “kỳ thị Nam-Bắc” nào, nhưng hồi ấy việc thành lập Ban Biên tập thường tập trung vào chỗ bạn bè quen nhau trong làng báo hay làng văn cho nên việc ký gỉa Bắc “ùa” vào báo Bắc hay Ký gỉa Nam “tập trung vào báo Nam” cũng là chuyện bình thường không aithắc mắc.

Tôi và Kiên Giang gặp nhau lần đầu tại qúa cơm-hủ tiếu của chú Ký, người Việt gốc Hoa gần trụ sở báo Tia Sáng vào khỏang giữa 69-70. Anh hỏi tôi: “ Làm sao mà Phạm Trần vào được báo của ông Thành?”

Lúc đầu tôi hơi ngạc nhiên nhưng sau mới biết hồi ấy không có ai là người Bắc làm việc tại báo Tia Sáng và tôi là người đầu tiên, cũng như sau này tôi được ông Chủ nhiệm báo Đồng Nai Hùynh Thành Vị, cựu Dân biều thời Đệ nhất VNCH, mời viết cho báo của ông và gặp thêm Ký gỉa kiêm Sọan gỉa Cải Lương Mộc Linh (tên đảo ngược của Minh Lộc), một thời là chồng của cô đào Cài lương chi bảo Bạch Tuyết. Tại Đồng Nai, tôi cũng là Ký gỉa gốc Bắc duy nhất.

Từ đó về sau 3 đứa chúng tôi thỉnh thỏang khi có giờ thì “đàn đúm” tại qúan này hay qúan khác uống với nhau chai bia để tán gẫu sau khi hết giờ ở Tòa sọan.

Kiên Giang là người miền Nam hiền hậu, ít nói, ăn mặc xềnh xòang, lúc nào cũng có cái mũ trên đầu và sống trong nội tâm nhiều hơn. Mộc Linh, cũng người miền Nam nhưng “bay bướm, đào hoa” và thường ăn mặc chải chuốt của người thành phố.

“Đặc sản” của Kiên Giang là “chiếc giỏ” lúc nào cùng kè kè bên mình như “bùa hộ mạng”. Trong chiếc giỏ lịch sử này, rất nhiều bài viết về kịch trường, Tác phẩm Thơ và nhiều vở tuồng Cải lương nổi tiếng của Hà Huy Hà (Kiên Giang ) đã được khai sinh và dàn dựng.

Anh là người sáng tác rất khỏe và liên tục không ngừng nghỉ nên ngồi ở chỗ nào anh cũng có thể viết được, ngay cả ở qúan chú Ký ồn ào như tổ ong !

Trái lại Mộc Linh thì lúc nào trong túi áo trước ngực cũng có vài ba cây bút Bic và một cuộn giấy chữ nghĩa gạch xóa lem nhem. Cứ mỗi lần nghĩ ra điều gì, anh lại kéo giấy ra ghi chép rồi cuộn lại bỏ túi.

Có lần Kiên Giang nói đùa: “Thằng này nó sợ tao cọp-py tuồng của nó nên nó mới cuốn lại đút vô túi !”

Nói xong, Kiên Giang lại rít một hơi thuốc lá rồi ngửa mặt lên trời phì khói cười sằng sặc.

Một hôm tôi thấy Kiên Giang ngồi như bất động một hồi lâu ở qúan chú Ký quay mặt qua bên kia đường Trần Hưng Đạo.

Tôi hỏi: “Nhìn em nào bên đó mà mê mết vậy ?”

Kiên Giang quay lại nói: “Có thấy em mẹ nào đâu, tự nhiên cái đấu nó khựng lại.

Theo tự chuyện của Kiên Giang thì ông và Nhà văn Sơn Nam là người cùng quê. Ông tham gia kháng chiến chống Pháp sau khi học hết lớp 12, làm báo cho tờ Tiếng súng chống địch ở chiến khu 9 và được Nhà Thơ nổi tiếng “lục bát” Nguyễn Bính dạy làm Thơ trong thòi gian này.

Sau khi đất nước chia đôi, ông về Sài Gòn khỏang 1955 và xin vào làm “Thày cò” (sửa bài) cho báo Tiếng Chuông của Chủ nhiệm miền Nam Đinh Văn Khai rồi dần dà trở thành Ký gỉa chuyên viết về kịch trường và Cải lương cho nhiều báo, trong đó có Dân chủ mới của hai cụ Trần Tấn Quốc và Nguyễn Kỳ Nam, Tiếng chuông, Dân ta, Dân tiến,Tia Sáng,Lẽ Sống, Tiếng Dội, Thời Sự Miền Nam, Lập Trường, Điện Tín, Tia Sáng ở Sài-Gòn và Miền Tây ở Cần Thơ; một số tạp chí văn-nghệ như Đời Mới, Bông Lúa, Vui Sống, Nhân Loại , Thế Giới, Phổ Thông  v.v..

Báo bên Việt Nam cho biết “Sau 1975, nhà thơ Kiên Giang làm phó đoàn cải lương Thanh Nga, làm việc tại phòng nghệ thuật sân khấu. Ông cũng từng là ủy viên ban chấp hành Hội sân khấu TP.HCM qua ba nhiệm kỳ.”

NGUỒN GỐC THƠ VÀ TÌNH        

Nói về nguồn gốc của Bài Thơ bất hủ “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím”, Kiên Giang kể : “Đây là tâm tình người trai ngoại đạo đối với cô gái có đạo. Mối tình học trò tinh khiết, ngây thơ, không nhuốm bụi trần. Năm 1944, tôi ở Cần Thơ học trường tư thục Nam Hưng, dốt toán nhưng giỏi luận chuyên làm bài giùm cho bạn cùng lớp, trong đó có NH (Nguyễn Thúy Nhiều) - cô bạn dễ thương thường mặc áo bà ba trắng, quần đen, mang guốc mộc. Có những buổi tan học lẽo đẽo đi theo sau NH. đến tận nhà cô ở xóm nhà thờ. Cách mạng nổ ra, không có tiền đi đò về quê, NH. biết ý gửi cho, rồi đi kháng chiến, gặp người quen trong đội quân nhạc nhắn: 'Con Tám NH. vẫn chờ mày'. Năm 1955 tôi ghé ngang Cần Thơ, xin phép má của NH. tâm tình suốt đêm bên ánh đèn dầu huê kỳ. Sau đó tôi nghe tin NH. lấy chồng có con đầu lòng đặt tên là tên ghép lại của tôi và NH. vì thế chồng cô biết rất ghen tức. Chính vì lý do nầy tôi đổi bốn câu kết bài thơ này, giống như tống tiễn mối tình học trò trinh trắng. (Trích Báck Khoa Tòan thư mở)

---------
Kết trước là:

Xe tang đã khuất nẻo đời
Chuông nhà thờ khóc tiễn người ngàn thu
Từ nay tóc rũ khăn sô
Em cài hoa tím trên mồ người xưa


thành cái kết:

Lạy Chúa! Con là người ngoại đạo
Nhưng tin có chúa ở trên trời
Trong lòng con, giữa màu hoa trắng
Cứu rỗi linh hồn con Chúa ơi!


Các bài viết phổ biến trên Internet còn cho biết Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím là: “Một chuyện tình thật của nhà thơ với cô Nguyễn Thúy Nhiều, một cô bạn học cùng lớp đệ nhị tại trường tư thục Nam Hưng, Cần Thơ. Tình trong như đã với cả hai nhưng thật câm nín, chàng trai chỉ biết theo bước chân nàng những hôm nàng đi lễ nhà thờ, nàng thường mặc áo tím và cài hoa trắng. Cho đến ngày kháng chiến tháng 8-1945. Ông về quê tham gia kháng Pháp rồi gia đình ép lấy vợ. Mười năm sau gặp lại, người nữ áo tím ngày nào vẫn chờ. "Hai tháng sau, ông nhận được thư bà Nhiều báo sẽ lấy chồng vì Kiên Giang đã có vợ. Người chồng của bà Nhiều cũng tên Trinh và khi sinh đứa con đầu lòng bà đặt tên tên Triều (gồm một nửa Nhiều và Trinh cộng lại)."

Kiên Giang cho biết thêm : “Năm 1999, hãng phim TFS Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh có làm phim "Chiếc giỏ đời người" về sự nghiệp hoạt động văn nghệ của tôi, khi trở về Cần Thơ quay lại cảnh trường cũ, mới hay tin là NH. mất năm 1998. Tôi mua bó huệ trắng, ra thăm mộ NH. ở nghĩa trang Cái Su. Đúng là

Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đóa hoa màu trắng
Anh kết tình tang gởi xuống mồ
"

NƯỚC MẮT KIÊN GIANG

Trong khỏang thời gian mấy năm quen nhau quanh các tờ báo “của Chủ nhiệm miền Nam”, ít ra cũng tới 4 lần tôi chứng kiến Kiên Giang rưng rưng nước mắt mội khi đọc trên báo có tin viết về một tai nạn gây chết người, dù do đạn pháo kích của quân Cộng sản vào thành phố hay chỉ là một tai nạn xe cộ.

Có lần Kiên Giang buột miệng:”Sao dân mình khổ qúa chừng a ? ”

Anh là người rất dễ xúc động mỗi khi thấy chuyện người dân cô thế bị tai nạn nên có lần tôi nghe Ngô Tỵ (Tổng Thứ ký Tòan sọan Tia Sáng) bảo:”Thằng Kiên Giang nó yếu xìu à, hơi tí là nó khóc !”

Vì vậy, không ai lạ khi thấy báo Việtnam Express bên Việt Nam kể trong số ra ngày 31/10/2014:”Chị Thùy, con gái thứ ba của nhà thơ, soạn giả Kiên Giang nghẹn ngào cho biết, trước khi ba mất, chị và ông còn trao đổi với nhau được vài câu. Nhà thơ sinh 1926 nhập bệnh viện Nguyễn Tri Phương, TP HCM, từ ngày 28/10 sau một cơn đột quỵ. Từ khi ông nhập viện, dù các bác sĩ tận tình cứu chữa, do tuổi cao sức yếu, khả năng cầm cự của ông ngày càng có chiều hướng xấu đi. Chiều 30/10, gia đình và các bác sĩ bệnh viện Nguyễn Tri Phương thống nhất đến 18h ngày 31/10 rút ống thở oxy để ông ra đi được nhẹ nhàng hơn. "Khi chưa rút ống thở thì 6h30 sáng nay ba tôi qua đời".

Chị Thùy kể tiếp : “ Trước ngày 28/10 - thời gian ông bị đột quỵ - nhà thơ Kiên Giang hoàn toàn khỏe khoắn. Khi đọc tin về một sản phụ ở An Giang bị xe tải cán lọt thai nhi ra ngoài, ông xúc động mạnh. Lão nhà thơ quyết định lấy số tiền lương hưu gần 3 triệu đồng của ông để mang đi tặng gia đình người bị nạn. Chị Thùy thấy tấm lòng của ba nên góp cùng ông thêm cho số tiền đủ 5 triệu đồng. Do cha con người bị nạn được chuyển về Sài Gòn điều trị, ông quyết định khăn gói lên Sài Gòn để tận tay trao tiền. Ban đầu gia đình can ngăn vì tuổi ông đã cao, lại di chuyển đường xa nhưng ông quyết định phải đi để trao tiền cho kịp thời. 

Nhà thơ một mình bắt xe lên TP HCM và ghé nhà người quen ở quận 8 ở, ông còn dành thời gian viết một bài báo trải lòng về tai nạn giao thông thương tâm làm chết đi người mẹ, người vợ trẻ. Ông định khi viết xong bài sẽ gửi đăng báo và vào bệnh viện để trao tiền. Nhưng khi vừa hoàn thành bài viết, ông kêu mệt, tay chân tím. Nhà thơ nhanh chóng được đưa vào bệnh viện Điều dưỡng quận 8 và sau đó chuyển qua bệnh viện Nguyễn Tri Phương.”

Sau khi qua đời, anh Kiên Giang đã để lại:


Thơ

  • Hoa trắng thôi cài trên áo tím
  • Lúa sạ miền Nam
  • Quê hương thơ ấu

Cải lương

  • Người đẹp bán tơ
  • Con đò Thủ Thiêm
  • Người vợ không bao giờ cưới
  • Ngưu Lang Chức Nữ
  • Áo cưới trước cổng chùa
  • Phấn lá men rừng
  • Từ trường học đến trường làng
  • Dòng nước ngược
  • Chia đều hạnh phúc
  • Trương Chi Mỵ Nương
  • Mây chiều xuyên nguyệt thôn
  • Sương phủ nửa chừng xuân
  • Chén cơm sông núi
  • Hồi trống trường làng
  • Lưu Bình - Dương Lễ
  • Rất nhiều bài tân cổ giao duyênTrái gùi Bến Cát, Đội gạo đường xa, Tim đá mạ vàng, Ngồi trâu thổi sáo, Ánh đèn soi ếch, Người đẹp bán tơ, Hương cao quê ngoại, Trái tim cò trắng, Vắt sữa nai nuôi mẹ, Hương sắc gái Cà Mau, Lập quán kén chồng, Ni cô và lão ăn mày, Khói lò gạch, Cô gái miền Tây...


Theo Tác giả Nguyễn Vy Khanh bên Việt Nam thì tuyệt tác Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím có 2 văn bản.

Ông Khanh viết: “Trước hết, xin ghi lại văn bản đầu trích từ tuyển tập Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím do nhà Phù Sa xuất bản năm 1962, chúng tôi in nghiêng những câu và chữ sẽ thay đổi ở bản sau. Đầu bài thơ ghi “Tâm-tình người trai ngoại đạo đối với cô gái có đạo":

Bài 1:

"Lâu quá không về thăm xóm đạo

Từ ngày binh lửa xóa không gian

Khói bom che lấp chân trời cũ

Che cả người thương, nóc giáo đường

Mười năm trước em còn đi học

Áo tím điểm tô đời nữ sinh

Hoa trắng cài duyên trên áo tím

Em là cô gái tuổi băng trinh

*

Trường anh ngó mặt giáo đường

Gác chuông thương nhớ lầu chuông

U buồn thay! chuông nhạc đạo

Rộn rã thay! chuông nhà trường

Lần lữa anh ghiền nghe tiếng chuông

Làm thơ sầu mộng dệt tình thương

Để nghe khe khẽ lời em nguyện

Thơ thẩn chờ em trước thánh đường

Mỗi lần tan lễ chuông ngừng đổ

Hai bóng cùng đi một lối về

E lệ, em cầu kinh nho nhỏ

Thẹn thuồng, anh đứng lại không đi

*

Sau mười năm lẻ, anh thôi học

Nức nở chuông trường buổi biệt ly

Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo

Tiễn nàng áo tím bước vu quy

Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ

Chiếc áo tang liệm khối tuyệt tình

- Hoa trắng thôi cài trên áo tím

Thôi còn đâu nữa tuổi băng trinh

Em lên xe cưới về quê chồng

Dù cách đò ngang cách mấy sông

Anh vẫn yêu người em áo tím

Nên tình thơ ủ kín trong lòng

*

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo

Anh làm chiến sĩ giữ quê hương

Giữ màu áo tím, người yêu cũ

Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường

Mặc dù em chẳng còn xem lễ

Ở giáo đường u-tịch chốn xưa

Anh vẫn giữ lầu chuông gác thánh

Nghe chuông truy niệm mối tình thơ

Màu gạch nhà thờ còn đỏ thắm

Như tình nồng thắm thuở ban đầu

Nhưng rồi sau chuyến vu-qui ấy

Áo tím nàng thơ đã nhạt màu

*

Ba năm sau chiếc xe hoa cũ

Chở áo tím về trong áo quan

Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt

Khi anh ngồi kết vòng hoa tang

Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh

Từng cài trên áo tím ngây thơ

Hôm nay vẫn đoá hoa màu trắng

Anh kết tình tang gởi xuống mồ

Lâu quá không về thăm xóm đạo

Không còn đứng nép ở lầu chuông

Những khi chuông đổ anh liên tưởng

Người cũ cầu kinh giữa giáo đường

"Lạy Chúa! con là người ngoại đạo

Nhưng tin có Chúa ngự trên trời"

Trong lòng con, giữa màu hoa trắng

Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi !!"

(Bến Tre 14-11-57) (Tr. 25-27)

Nguyễn Vy Khanh giải thích thêm: “Trong bài này, mối tình đam mê của ‘người trai ngoại đạo’ rất nồng nàn và kết thúc lãng mạn. Ngược lại, ở bài sửa lại sau, ghi ngày 28-5-1958, thay vì nhân vật nữ chết và tình tác-giả vẫn nồng cháy, thì ông để người trai "đã chết hiên ngang dưới bóng cờ" khi bảo vệ ngôi thánh đường và như tác giả sau này cho biết vì muốn người yêu sống hạnh phúc bên chồng con, ông đã đổi một số câu trong bài cho hợp tình ý câu chuyện và đoạn kết bài thơ như muốn tống tiễn mối tình học trò trong trắng ấy . Xin ghi lại nguyên bài thứ hai (trong cùng tập do nhà Phù Sa xuất bản, tác-giả để bài năm 1958 lên đầu tập, trang 9-11 và phụ ghi là bài 1, bài năm 1957 thành bài 2, trang 25-27).

BÀI 2:

"Lâu quá không về thăm xóm đạo

Từ ngày binh lửa cháy quê hương

Khói bom che lấp chân trời cũ

Che cả người thương nóc giáo đường

Mười năm trước, em còn đi học

Áo tím điểm tô đời nữ sinh

Hoa trắng cài duyên trên áo tím

Em là cô gái tuổi băng trinh

*

Quen biết nhau qua tình lối xóm

Cổng trường đối diện ngó lầu chuông

Mỗi lần chúa nhựt em xem lễ

Anh học bài ôn trước cổng trường

Thuở ấy anh hiền và nhát quá

Nép mình bên gác thánh lầu chuông

Để nghe khe khẽ lời em nguyện

Thơ thẩn chờ em trước thánh đường

Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ

Hai bóng cùng đi một lối về

E lệ, em cầu kinh nho nhỏ

Thẹn thuồng, anh đứng lại không đi

*

Sau mười năm lẻ, anh thôi học

Nức nở chuông trường, buổi biệt ly

Rộn rã từng hồi chuông xóm đạo

Tiễn nàng áo tím bước vu quy

*

Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ

Chiếc áo tang liệm một khối sầu

Hoa trắng thôi cài trên áo tím

Giữ làm chi kỷ-vật ban đầu

Em lên xe cưới về quê chồng

Dù cách đò ngang cách mấy sông

Vẫn nhớ bóng vang thời áo tím

Nên tình thơ ủ kín trong lòng

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo

Anh làm chiến sĩ giữ quê hương

Giữ tà áo tím màu hoa trắng

Giữ cả trường xưa nóc giáo đường

Giặc chiếm lầu chuông xây gác súng

Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ

Anh gom gạch đổ xây tường lũy

Chiếm lại lầu chuông giết kẻ thù

Nhưng rồi người bạn đồng trang lứa

Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ

Chuông đổ ban chiều, em nức nở

Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ

Hoa trắng thôi cài trên áo tím

Mà cài trên nắp cỗ quan tài

Điểm tô công trận bằng hoa trắng

Hoa tuổi học trò mãi thắm tươi

*

Xe tang đã khuất nẻo đời

Chuông nhà thờ khóc ...tiễn người ngàn thu

Từ đây, tóc rũ khăn sô

Em cài hoa trắng trên mồ người xưa"

(Gia-Định 28-5-58) (Tr. 9-11)

Trước sự ra đi của Kiên Giang, báo Người Lao Động viết hôm 31/10/2014: “Gần bước qua tuổi 86 mà ông vẫn “lang bạt giang hồ”. Vừa chịu về vùng quê Long Xuyên chung sống với con gái chưa được vài tháng, ông đã ba lần khăn gói lên Sài Gòn. Trước đây, với chiếc xe cánh én đã sờn màu, ông vẫn thích tự do đi lại nhiều nơi để tìm cảm hứng sáng tác.

Nghệ sĩ Phượng Liên kể một chi tiết đau lòng: “Là soạn giả nghèo, ký giả kịch trường tàn tạ nhất nhưng ông vẫn giàu nhân nghĩa. Đi đường thấy những đứa trẻ đánh giày đói rách, còn bao nhiêu tiền trong túi ông móc ra cho hết. Có lẽ không chỉ riêng tôi, hầu như mọi người yêu thơ khi nghe qua những bài thơ của ông, đều phải cảm thương người thi sĩ mang kiếp con tằm, đến thác vẫn còn nhả tơ cho đời”.

Báo NLĐ cũng nhắc lại câu chuyện Nghệ sỹ Viễn Châu đã có lần nhận xét về Kiên Giang: “Là con thứ trong gia đình gồm 5 anh em, ông lấy tên quê hương đặt bút danh cho mình: Kiên Giang. Sinh ra trong một gia đình thuần nghề nông của miền sông nước, tuổi thơ nhà thơ Kiên Giang trải qua những nhọc nhằn ở vùng U Minh Thượng. Do vậy, tập thơ cuối cùng ông sáng tác, đang chuẩn bị in để ra mắt bạn yêu thơ, ông đặt tên Theo vết xe trâu. “Bởi, tuổi thơ của Kiên Giang gắn liền với đồng áng, với giếng nước, bờ tre, ruộng lúa nên vết xe trâu chính là những lát cắt thân phận đậm chất nhà quê đi vào thơ ca, sân khấu bằng ngòi bút mẫn cảm của ông. Và trên hết, bàng bạc trong tác phẩm của ông là thân phận con người, tình người, tình yêu quê hương và lòng chung thủy.”

Nghệ sỹ Út Bạch Lan nói: “Vở Người vợ không bao giờ cưới đã mang về cho NSƯT Thanh Nga giải thưởng Thanh Tâm - Nữ nghệ sĩ cải lương xuất sắc nhất từ đó trở thành ngôi sao sáng trên sân khấu cải lương”.

Danh hài Bảo Quốc, em ruột Thanh Nga cho biết: “Vở Người vợ không bao giờ cưới của ông là một di sản lớn đối với Đoàn Thanh Minh - Thanh Nga. “Bút pháp và tài năng của ông đã để lại cho các thế hệ nghệ sĩ chúng tôi sự đồng điệu sâu sắc, đó là tinh thần yêu nước.”

Trước ngày từ gĩa cõi đời, theo báo NLĐ, Kiên Giang từng mộc mạc:


“Ta về với vết xe trâu

Để bao trĩu nặng u sầu tan đi

Quê hương tuổi ngọt căng tròn

Tình tan một thuở cho đời du ca”

Trong suốt gần 40 năm qua, qua gián tiếp, tôi và Kiên Giang vẫn biết mình còn sống và nhớ đến nhau dù xa nhau nửa qủa địa cầu.

Giờ đây người bạn làm báo “người miền Nam” Kiên Giang Hà Huy Hà chân thật và hiền lành của tôi thuở Sài Gòn trước năm 1975 không còn nữa, nhưng làm sao tôi quên anh và những “người bạn làm báo miền Nam” đã một thời từng “làm chung và ngồi cùng bàn với anh nhà báo Bắc kỳ này” ?

Tôi đã khóc thương anh, một Nhà Thơ, một Sọan gỉa Cải Lương đa tài và nghèo nhưng rất giầu với tấm lòng thương người bao la.-/-

Phạm Trần (11/014)

 

Last Updated on Saturday, 06 December 2014 08:24
 

Sổ Vàng

An-Lộc Foundation