Font Size

Profile

Menu Style

Cpanel
Tạp văn Quốc Nam PDF Print E-mail
Written by admin   
Monday, 14 November 2011 10:25

Vài hàng về Quốc-Nam.

Tác giả Quốc Nam sinh năm 1944 tại tỉnh Nam Định. Làm thơ từ thuở 12 tuổi. Bắt đầu có thơ văn đăng báo từ năm 1961. Viết văn, làm báo chuyên nghiệp từ năm 1963 khi vừa bước lên Đại Học. Tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam (Đà Lạt) năm 1967, và Đại Học Meridian Hoa Kỳ (MBA, Cao Học Quản Trị Kinh Doanh) năm 1993.

Tính cho tới năm 2015, nhà thơ nhà báo Quốc Nam đã hành nghề truyền thông báo chí liên tục 54 năm, và bắt đầu biết làm thơ cách đây gần 60 năm. Tập truyện đầu tay của ông đã xuất bản từ năm 1961. Và hiện Quốc-Nam đã xuất bản được 21 tác phẩm (6 văn vần & 15 văn xuôi).

Trước tháng 4, năm 1975, ông cộng tác hoặc điều hành tòa soạn cho một số nhật báo và tuần báo tại thủ đô Saigon. Đồng thời, ông còn làm Chủ Biên kiêm Phó Giám Đốc Hãng Thông Tin Miền Nam từ năm 1970. Ngay từ năm 1964, khi chưa đầy 20 tuổi, ông đã đảm nhận vai trò Thư Ký tòa soạn tuần san giáo dục Tinh Hoa tại thủ đô Saigon (Nam Việt Nam).

Lưu vong qua Hoa Kỳ từ tháng 9 năm 1975, Quốc Nam là Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút báo Hoài Hương và Đông Phương từ tháng 8 năm 1976. Những năm tiếp theo, ông hoạt động trong lãnh vực xuất bản, với vai trò Giám Đốc điều hành Cơ Sở Văn Hóa Đông Phương (từ năm 1976). Từ năm 2001 tới nay, ông là Chủ Tịch / Tổng Giám Đốc Cơ Sở này & Saigon Radio phát thanh suốt ngày đêm (24/7) tại tiểu bang Washington.

Mặt khác, nhà thơ nhà báo Quốc-Nam đã trở thành người cầm bút đầu tiên tại hải ngoại được tuyên dương là ‘Chiến Sĩ Văn Hóa Việt Nam’ bởi 10 tổ chức người Việt uy tín gồm: Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH Ontario Canada (1992), Hội Sinh Hoạt Văn Hóa VN tiểu bang Louisiana (1994), Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia VN & Hội Ký Giả VN Hải Ngoại (2001), Hội Ái Hữu Cựu SVHS Di Cư 1954 (2004), Hội Phụ Nữ Mê-Linh Washington (2005), Hội Thân Hữu Trường Xuân tiểu bang Washignton (2008), Hội Từ Thiện Sóng Tìh Thương & Pháp Duyên Tịnh Xá (2009), Ban Tổ Chức "50 năm thi ca Quốc Nam" (Houston, 2011). Ông cũng là tác giả đặt danh xưng thơ mộng cho 3 vùng: Thung Lũng Hoa Vàng (San Jose, CA), Cao Nguyên Tình Xanh (Seattle, WA), và Hồng Hoa Ph(Portland, OR).

Thi sĩ Quốc-Nam qua ống kính của nhà thơ/nhiếp ảnh gia Võ Thạnh Văn (2008).

Thư gởi Bạn Hiền

LTS.- Tác Giả Quốc-Nam đã nhập học ở tiểu chủng viện Thánh Phanxicô Xavie từ năm 1957. Tu viện này nằm ở cạnh bờ biển và sau lưng là rừng thông bạt ngàn, nằm trong ấp Tân Phước tỉnh Phước Tuy. Do đó, lớp Thánh Giu-Se gồm 60 tu-sinh sau này tung ra đường đời và vẫn liên hệ mật thiết với nhau dưới danh xưng "Lớp Biển Thông". Năm 2007 vừa qua, các tu sinh nêu trên đã họp mặt ở Thung Lũng Hoa Vàng (San Jose, CA, Hoa Kỳ) và đô thành Sài-Gòn (nội địa Việt Nam) để cùng nhau kỷ niệm 50 năm nhập Chủng Viện. Lớp Biển Thông đã xuất bản được tập kỷ yếu "Biển Thông II" dày 450 trang với bìa màu rực rỡ, trong đó đăng bài viết của một số nhân tài cùng lớp như Đức Ông Đinh Đức Đạo (nay là Giám Mục Giu Se Đinh Đức Đạo)), 10 linh mục, nhà truyền thông Vương Kỳ Sơn (Trần Huy Vân), nhà thơ nhà báo Quốc-Nam (Nguyễn Xuân-Nam), ký giả Duy Thảo (Đinh Ngọc Tề), nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn (MC của Trung Tâm Thúy Nga Paris) v.v...
Sau đây là bài viết của thi sĩ Quốc Nam trích từ Kỷ Yếu Lớp Biển Thông năm 2007 đánh dấu nửa thế kỷ dâu bể của Lớp Giu-Se (1957-2007):

Bạn Duy Thảo thân mến,
Một tấm hình "ban vũ tuyệt vời" của tiểu chủng viện Phanxico Xavier năm 1957 do Đức Cha Đinh Đức Đạo gởi cho anh em chúng ta, khiến tôi hồi tưởng cả một khung trời kỷ niệm thuở còn học dưới mái trường ở Tân Phước, Phước Tuy cách đây hơn nửa thế kỷ.
Tuy bạn và tôi không "đi tu" được bao lâu, nhưng những lời giao huấn của qúy vị Linh Mục đã len vào tâm hồn tôi và ảnh hưởng trong suốt quãng đời của tôi sau đó cho mãi đến ngày hôm nay. Đó là niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa và đức vâng lời bề trên.


Ban vũ Lớp Biển Thông năm 1957. 3 chủng sinh bên trái tấm hình (nhìn từ trên xuống dưới): Đinh Đức Đạo (Giám Mục), Nguyễn Quốc-Nam (thi sĩ) & Nguyễn Thanh Hưởng.

Năm 1961, tôi gia nhập Đảng Đại Việt Cách Mạng, và trở thành Phó Bí Thư Tỉnh Đảng Bộ ĐVCM Hậu Nghĩa từ 1970 đến 1973.
Năm 1965, tôi thi tuyển vào quân trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ở Đà-Lạt, và tốt nghiệp năm 1967. 
Chính 2 môi trường nêu trên cũng đã ảnh hưởng đến các hành xử của tôi trước cuộc đời đầy gian lao và thử thách. Nhờ hoạt động trong Đại Việt Cách Mạng Đảng, tôi kiên trì chịu đựng mọi nghịch cảnh. Nhờ quân trường Võ Bị, tôi đã chịu đựng mọi gian khổ và không ngại hiểm nguy.
Năm 1969, tôi lập gia đình chính thức với một thiếu nữ Công Giáo sinh trưởng tại Huế, nhưng lớn lên ở Đà Nẵng và Sài-Gòn. Nàng là con gái của một vị Đại Tá Quân Vận QLVNCH (cựu SVSQ Khóa 8 Dalat, Niên Trưởng Võ Bị của tôi). Cuộc hôn nhân này sản sinh được 3 người con (2 gái và 1 trai). Năm 1990, nàng nộp đơn ly dị tại Tòa Án San Jose, và gia đình tôi sụp đổ từ đó. Nàng là một ca sĩ kiêm nữ văn sĩ, bút hiệu D.C.     
Cuộc đời tôi từ nhỏ đến ngày nay, thường gặp may mắn nhiều hơn xui xẻo. Ngoài vụ ly dị bất ngờ, tôi gặp nỗi đau nhất trong đời là con gái thứ hai của tôi là Nguyễn Xuân Quỳnh Ly bị tử nạn vì xe cộ ở San Diego năm 2002, bỏ lại 3 đứa con còn thơ dại.
Trong thời gian ngắn ngủi phục vụ trong QLVNCH, tôi bị thương trận 2 lần rất nặng, nhưng thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Rồi giải ngũ năm 1971 với cấp bậc Trung Úy. Ngay năm đó, trong Đại Hội Thương Phế Binh toàn quốc ở đại khách sạn Majestic (Saigon), tôi được các Đại Biểu Thương Phế Binh thuộc 12 Tỉnh Thị Hội Miền Đông bầu cử vào vai trò Chủ Tịch Khu Hội Phế Binh Quân Khu 3.


Linh mục Trần Hữu Lân (Tuyên Úy binh chủng Không Quân VNCH) cùng 3 bạn cùng lớp Biển Thông. Hình từ trái qua phải (năm 1970): Phương, Quốc-Nam, LM Lân & Oánh.

Từ năm 1970, tôi đảm nhiệm vai trò Chủ Biên kiêm Phó Giám Đốc hãng thông tấn Tin Miền Nam (TMN), với nhiều đặc phái viên và thông tín viên hành nghề ở hầu hết các tỉnh thị Miền Nam VN. Bạn Hiền cũng là một trong số đặc phái viên xuất sắc của Hãng TMN. Sau này, đặc phái viên quân sự Hoàng Quân của TMN đã rất nổi tiêng ở hải ngoại qua những bộ sách dã sử dày hàng ngàn trang, với bút hiệu Trần Đại Sỹ (Doctor) ở Paris, Pháp quốc. 
Đúng ngày 30 tháng tư năm 1975, tình cờ Trần Đại Sỹ và tôi cùng lên con tàu định mệnh Trường Xuân để đến tị nạn ở Hongkong. Tôi bất ngờ trở thành Chủ Bút bán tuần san Tre Xanh xuất bản ở đảo quốc từ tháng 5/1975.
Tháng 9 năm 1975, tôi được đoàn tụ với vợ con tại thành phố Springfield (Missouri). Đầu năm 1976, gia đình tôi dọn nhà đến Kansas City, gặp gỡ bạn thân tôi là họa sĩ kiêm điêu khắc gia Phạm Thông (từng rất nổi tiếng với bức tượng Đức Trần Hưng Đạo chỉ xuống dòng sông Saigon, ngay bến Bạch Đằng). Nơi đây, tôi và Phạm Thông đã hợp lực ấn hành tạp chí Hoài Hương từ tháng 8 năm 1976, sau này đổi tên là Đông-Phương. Cũng từ đó, nhóm Đông-Phương thành hình, sau này lấy danh xưng là "Đông-Phương Foundation" với Phạm Thông là Chủ Tịch tiên khởi, còn tôi là Tổng Thơ Ký kiêm Giám Đốc Điều Hành. Mãi đến tháng 8/2001, tôi mới trở thành Chủ Tịch Cơ Sở Văn Hóa Đông-Phương. Trong hơn 3 thập niên qua, Cơ Sở này do tôi điều hành đã tạo được một số thành quả đáng kể. Xin đơn cử một vài sự kiện như sau:
- Thành lập Giải Quốc Tế Tượng Vàng VN (VN’s International Golden Awards) từ năm 1987, dành cho tuổi trẻ VN. Đã có tới 7153 thí sinh khắp thế giới ghi danh tham dự các cuộc tuyển lựa Ca Sĩ trong suốt 20 năm qua.
- Tổ chức Quốc Tế Đại Hội Văn Hóa Việt Nam mừng Thế Kỷ 21, vào tháng 5/2000, tại Tacoma Dome (cầu trường mái bằng gỗ lớn nhất hành tinh).
- Tổ chức thành công rực rỡ 3 ngày "Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ Việt Nam" nhằm tuyên dương giới phụ nữ tài hoa Việt Nam trong tháng 10 năm 2005, tại Seattle (Washington).  
- Thành lập Saigon Radio (Đài phát thanh Việt ngữ đầu tiên ở tiểu bang Washington) từ tháng 10 năm 1993. Hiện nay đài này phát thanh suốt ngày đêm và 365 ngày mỗi năm. 
Trước năm 1975, tôi đã là Tác Giả 16 cuốn sách, thi tập đầu tay là tập "Tình Ca Lính Alpha Đỏ" xuất bản năm 1968, và được thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà tận tình giới thiệu trong chương trình thi ca Mầy Tần trên đài phát thanh Saigon. Và báo chí dạo ấy cũng phổ biến thơ tôi khá nhiều. Nhờ vậy, tôi cũng đã có một ít tên tuổi trước khi ra hải ngoại. 
Tại Hoa Kỳ, tôi đã là một trong vài Chủ Báo đầu tiên xuất bản báo Việt-ngữ, và phát hành khắp nơi.
Khoảng tháng 6 năm 1979, tôi qua Vancouver, B.C. (Canada) gặp gỡ một số bạn trẻ Việt Nam. Tình cờ tôi gặp Nguyễn Ngọc Ngạn tại đây, và nhận ra Ngạn đã cùng học ở tiểu chủng viện Tân Phước với chúng ta. Khi Ngạn cho biết đang viết tập phóng sự dài "Những Người Đàn Bà Còn Ở Lại", tôi đã đọc qua đoạn đầu, và khích lệ Ngạn viết cho xong, càng sớm càng tốt. Nhưng có lẽ Ngạn không nhận ra tôi là bạn cùng lớp Biển Thông với Ngạn. Bằng chúng là trong 1 lá thư Ngạn đã viết cho tôi rằng: ‘Cám ơn anh đã có nhã ý giúp đỡ. Tôi xin giao hoàn toàn cho anh làm gì thì làm... Dĩ nhiên, lần đầu còn nhiều vụng về, mong anh giúp, đọc và sửa nếu cần. Anh đã gọi tôi là bạn thì chẳng có gì câu nệ. Thành công hay không, có lẽ còn nhờ quảng cáo nữa...’(nguyên văn lá thư đề ngày 15 tháng 6 năm 1979).


Nhà thơ Chủ báo Quốc-Nam (bên trái) gặp gỡ Người viết mới Nguyễn Ngọc Ngạn tại Vancouver BC (Canada) khoảng giữa năm 1979.

Trong thâm tâm tôi, Ngạn là bạn cũ cùng "đi tu" cùng một chủng viện, nên Cơ Sở tôi quyết định sẽ tận tình "lăng xê" Ngạn trở thành một nhà văn sáng giá. Đối với độc gỉa trong và ngoài nước Việt Nam lúc đó thì Ngạn chưa có chút tên tuổi gì, nhưng tôi đã đăng hình ảnh và đánh giá ngay lập tức Ngạn là một nhà văn có kích thước, trong nguyệt báo Đông Phương số 3 bộ mới phát hành ngày 15 tháng 8 năm 1979. Có lẽ Ngạn đã ngạc nhiên khi tại sao một nhà thơ nhà báo chuyên nghiệp như tôi lại quá nồng nhiệt ‘lăng xê’ Ngạn như vậy ngay từ lúc đầu? Sau đó, tôi đã vận động Cơ Sở Văn Hóa Đông Phương và Nhà Xuất Bản Nhân Văn ở San Jose, ấn hành tác phẩm đầu tay của Nguyễn Ngọc Ngạn: "Những Người Đàn Bà Còn Ở Lại". Và cuốn sách ấy đã trở thành "best seller" trong thập niên 1980. Bây giờ thì Nguyễn Ngọc Ngạn đã nổi danh trên màn hình của Trung Tâm Thúy Nga Paris. Âu đó cũng là niềm hãnh diện cho Lớp Biển  Thông.
Bạn Hiền,
Bây giờ trở lại khung trời Tân Phước của nửa thế kỷ trước, tôi nhớ lại mình đã làm bài luận văn "Đôi Guốc" được Cha giáo Tập đọc cả lớp làm bài mẫu.  Thực ra, tôi đã có khiếu về thơ văn từ khi học Lớp Đệ Thất trung học công lập Hồ Ngọc Cẩn niên khóa 1956-1957. Trong tờ bích báo tại trường này vào cuối năm 1956, đã xuất hiện bài thơ ngắn khá ngây ngô của tôi, như sau:
"Em yêu quê mẹ nghìn trùng,
Lũy tre, nhà rộng bên sông lững lờ.
Cây bàng to lớn ghê cơ,
Em cùng chúng bạn nhảy cò, đánh khăng.
Trường em gần cổng đình làng,
Học bài tiếng trẻ rộn ràng ngân vang.
Mùa hè năm ấy, chiến tranh,
Đưa em ra khỏi xóm làng thân thương.
Cả nhà dắt díu lên đường,
Vào Nam, làm kẻ tha phương quê ngươi.
Từ đây cách biệt khung trời,
Quê em mãi mãi tuyệt với trong tâm."
(Gia Định ngày 22 tháng 12 năm 1956)

Đây chính là bài thơ đầu tay trong quãng đời thi ca của Quốc-Nam trải dài gần 60 năm qua. Tính cho đến nay, tôi đã xuất bản được 19 tác phẩm (trong số này có 4 tập thơ). Hai thi tập ấn hành ở hải ngoại là Quê Hương Nước Mắt & Người Tình Quê Hương.
Trong hơn 3 thập niên liên tục sinh hoạt văn hóa và cộng đồng ở hải ngoại, tôi là người Việt Nam đầu tiên được tuyên dương là "Chiến Sĩ Văn Hóa Việt Nam" bởi 6 tổ chức, gồm: Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH Ontario Canada (1992), Hội Sinh Hoạt Văn Hóa VN tiểu bang Louisiana (1994), Tổng Hội Cựu SVSQ Trường Võ Bị Quốc Gia VN (2001), Hội Ký Giả Việt Nam Hải Ngoại (2001), Hội Ái Hữu Cựu SVHS Di Cư 1954 (2004), Hội Phụ Nữ Mê-Linh  Washington (2005)... Tôi cũng may mắn đặt được mỹ-danh cho 3 vùng có đông đảo người Việt định cư, là Thung Lũng Hoa Vàng (San Jose, California), Cao Nguyên Tình Xanh (Seattle, Washington), và Hồng Hoa Phố (Portland, Oregon).
Bạn Hiền,
Trong cuộc đời của mỗi người thường có một niềm hãnh diện riêng tư nào đó. Con người ta ‘không thành công thì thành nhân’. Tôi cũng có niềm hãnh diện ấp ủ trong lòng là từ thuở vào đời năm 20 tuổi cho đến ngày nay: Tôi từng được sự thương mến của nhiều vị lãnh đạo các Tôn Giáo. Xin trích một vài cảm nghĩ của qúy Ngài dành cho tôi như sau.-
Hòa Thượng Thích Giác Nhiên (Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới):  Quốc Nam là tiếng nói đã từng gào thét vang di khắp năm châu, nơi nào cũng biết đến ngòi bút thép của QN, là tiếng nói tận đáy lòng của ngươi dân nước Việt... "QN đã lắm nhiều công tham khảo, nói từng ly từng tí nỗi quê hương..."
Linh Mục Nguyễn Đức Việt Châu (Giám Đốc Cơ Sở Truyền Thông & nguyệt san Dân Chúa): Tôi nghĩ rằng tuyển tập ‘Quê Hương Nước Mắt’ của Quốc Nam sẽ giúp ích rất lớn lao cho người Việt tha hương, đặc biệt cho giới trẻ Việt Nam tỵ nạn. Giới trẻ VN đọc tuyển tập này chắc chắn sẽ hiểu thêm về giá trị tình yêu, gia đình và Quê Hương.
Mục Sư John Đỗ Vĩnh Tường (Hội Thánh Tin Lành Lutheran VN Des Moines, IA): Lòng trung thành và tận tụy với văn thơ của Quốc-Nam thật là vô giá. Linh hồn anh trong thơ mới thật là đáng khen ngợi, hơn là chú ý đến cung điệu bên ngoài. Tôi rất ngưỡng mộ, mến phục tâm chí và nhiệt tình của Quốc Nam, đã dốc đổ vào trong các vần thơ mà anh đã sáng tác. Cầu xin Thượng Đế ban phúc lành cho anh càng thêm vững tâm chí, tiếp tục bước đường văn nghiệp, để phục vụ đồng bào và quê hương...
Hòa Thượng Thích Giác Lượng tức thi sĩ Tuệ Đàm Tử (San Jose, CA): Quốc Nam, một con người đa diện, chỉ nhìn gương mặt Quốc Nam cũng đủ cho chúng ta thấy sự cương trực, nhưng cương trực mà không cứng như hàng rào lưới sắt; nên từ đó đã mời gọi nhiều người hướng mắt, bắt tay. Lại nữa, nhìn bộ đi, tướng đứng, chúng ta biết Quốc Nam không phải là con người bị lụy trước những thực trạng khổ đau, đổ vỡ... Tôi rất mến, phục, và thương Quốc Nam. Về nghiệp dĩ văn chương thì tôi coi như người bạn. Về lãnh vực hoạt động như kẻ đồng hành. Về chiều hướng phụng sự là người cùng tâm sự hy sinh cho lẽ sống. 
Linh Mục, nhà báo John B. Thanh-Hùng (Wiscosin): Tôi cũng rất cảm động khi đọc mấy đoản văn của Quốc Nam trong ‘Quê Hương Nước Mắt’. Anh đã dùng những lời lẽ đơn sơ thiết thực, đầy tình cha mẹ, để giáo dục con cái. Anh khuyên răn con cái sống tinh thần bác ái Công Giáo, cố gắng duy trì lấy những truyền thống Việt Nam tốt đẹp, cũng như gia tài văn hóa Việt Nam. Về điểm này, Quốc Nam quả là một tấm gương sáng, đáng cho các cha mẹ khác trong tập thể người Việt tị nạn noi theo.
Cố Linh Mục/Tiến Sĩ Giuse Nguyễn Công Lý (nguyên Viện Trưởng Đại Học Minh Đức, Saigon): Tôi vẫn thầm thán phục Quốc-Nam là người có nhiều sáng kiến, dám nghĩ, dám nói, dám làm... và làm những việc ít ai dám làm. Thực là vinh hạnh cho quê hương làng nước chúng ta...
Linh Mục Trần Đoàn tức nhà văn Lã Mộng Thường (Missisippi): Đọc ‘Quê Hương Nước Mắt’ chúng ta thấy, không phải Quốc Nam chỉ nói lên tâm tình người Việt lưu vong đối với đất nước, mà ông còn nhắc nhở mọi người nhớ đến niềm tự hào của con dân Việt Nam. Chúng ta hãnh diện về quê hương thân yêu hình cong chữ S... Không lạ gì khi chúng ta đọc thấy Tác Giả dùng hai người đàn bà Việt Nam làm gương mẫu để thế hệ trẻ lưu vong noi gương. Có thể nói, Tác Giả đã dùng hình ảnh của những người đàn bà Việt Nam ở hải ngoại để tạo dựng hình ảnh quê hương cho thế hệ trẻ lưu vong.
Cựu Mục Sư, Bác Sĩ Phạm Lễ: Nếu danh xưng ‘Chiến Sĩ Văn Hóa Việt Nam’ để gọi một người VN chỉ biết cầm súng và cầm bút mưu sinh trong quãng đời 46 năm (1961-2007), thì nhà thơ nhà báo Quốc-Nam quả đúng là mẫu người mà chúng ta thương mến kêu tên ông một cách đúng nghiã như vậy.
Bạn Hiền,
Nói tóm lại, đời tôi thực sự gặp nhiều may mắn. Thiên Chúa, Thánh Cả Giu-Se & Đức Mẹ Maria đã ban cho tôi 3 nghề chuyên nghiệp để tồn tại khá hạnh phúc trên dương gian, là: cầm bút, cầm súng và cầm micro. Tôi mưu sinh bằng nghề cầm bút hơn nửa thế qua; tôi là một Sĩ Quan Hiện Dịch QLVNCH, nghĩa là cầm súng nhà nghề; tôi tình cờ cầm micro chuyên nghiệp khi nói chuyện trước cử tọa hàng trăm buổi văn nghệ & làm radio hơn thập niên qua.


Kỷ niệm Bữa điểm tâm đơn sơ (1 mẩu bánh mì & ly sữa lỏng) tại tiểu chủng viện Phanxicô Xavie cách đây đúng nửa thế kỷ. LM Nguyễn Quang Hòa đang giơ tay làm phép thánh cho bữa ăn tượng trưng trong ngày họp mặt 50 năm nhập tu viện, tổ chức ở San Jose năm 2007.

Tôi xin tạm ngưng ở đây, bởi thư viết gởi Bạn Hiền đã khá dài. Lời chót xin tâm sự với bạn rằng: Nhờ khởi điểm từ tiểu chủng viện Phanxico Xavier, nửa thế kỷ qua tôi đã sống cho tha-nhân nhiều hơn cho chính hạnh phúc riêng tư của mình đó, bạn ạ! Bây giờ, ở tuổi 63, mỗi ngày tôi phục vụ đồng bào từ 12 đến 14 tiếng đồng hồ, qua việc điều hành đài phát thanh SRBS 24/7, ở miền Tây tiểu bang Washington.  
Cầu chúc bạn và gia đình luôn luôn vui mạnh, hạnh phúc, vạn sự như ý, và đầy Ơn Chúa.
Cao Nguyên Tình Xanh Washington, mùa hè 2007.
QUỐC-NAM 
(Joseph Nguyễn Xuân-Nam)

Thư gởi Người Tình Quê Hương

Em rất yêu dấu,
Thư này anh viết cho em từ một vùng trời hải ngoại bạt ngàn thông xanh, mà người ta gọi là ‘Cao Nguyên Tình Xanh’.
Khí hậu nơi đây, bây giờ, ấm áp. Mùa hè đang trải dài trên những triền núi, thung lũng, hồ, biển, bên bờ Thái Bình Dương bao la, ngàn đời sóng vỗ, ru anh vào niềm tiếc nhớ không nguôi. 
Bởi vì, dường như đôi ta cùng mang nỗi nhớ và nỗi chết ngập ngụa tâm hồn như nhau. Không ân hận, không màu mè, và không hề vướng víu bụi trần. Anh yêu em. Em yêu anh. Mối tình thăng hoa tuyệt vời, và chưa từng hòa trộn thịt da. Đó phải chăng là một mối tình thánh thiện, tưởng chừng như không thể có trên cõi đời ô trọc này. Nhưng anh và em đã là chứng nhân của nhau, thì sá gì chuyện có hay không.
Thế mà... hơn 24 năm đôi ta đã cách ly biền biệt... Không ngờ... Qủa thực anh không ngờ... Ngày sinh nhật thứ 55 của anh, tháng chín mười lăm, đột nhiên anh nhận được tấm thiệp chúc mừng Sinh Nhật của em, với dấu ấn bưu điện Hoa Kỳ cho biết em gởi thư đến đây từ thành phố Topeka, Kansas. Em viết vài hàng chúc ‘Happy Birthday’, đồng thời cho biết em mãi mãi yêu anh, và vẫn theo dõi từng bước chân anh đi trên con đường phục vụ văn hóa dân tộc và cộng đồng. Sau cùng, em cầu chúc anh an vui, và thắng lợi mọi mặt. Bao thư không có địa chỉ của người gởi.
Anh đã bàng hoàng cả giờ đồng hồ, sau khi đọc xong Thiệp chúc sinh nhật với nét chữ thân quen của em. Trời ơi! Sau ngót 1/4 thế kỷ chia tay nhau, tưởng chừng vĩnh viễn mất dấu nhau, nay bỗng dưng nhận được những giòng thư của người yêu dấu nhất đời mình, thì thử hỏi anh không vui mừng như điên cuồng sao được!
Và rồi biết bao kỷ niệm cũ giữa anh và em, như cuốn phim lần lượt trở về tâm trí anh, rõ từng nét như vừa mới xảy ra hôm qua...
Ngày 30 tháng tư năm 1975, khi đoàn xe tăng của bộ đội Việt Cộng tiến vào thủ đô Sài-Gòn, anh vẫn còn lái xe vespa trên đường phố, và chưa biết đi đâu, trong khi vợ con anh đã lên máy bay qua đảo Guam. Khoảng 1 giờ trưa, khi chạy xe ngang thương cảng Sài-Gòn, anh thấy đông đảo người đang bước xuống các con tàu lớn, nhỏ. Anh vội bỏ xe bên cổng Kho 5, và nhảy xuống con tàu Trường Xuân đã rất nhiều người đứng ngồi ngổn ngang trong boong tàu. Khoảng 1 giờ rưỡi, con tàu Trường Xuân cũ kỹ mới rời bến cảng Sài-Gòn. Rồi sau bao nhiêu trở ngại chết người và đói khát hơn 4 ngày đêm trên mặt biển, có lúc con tàu Trường Xuân bị nước tràn vào suýt chìm xuống lòng đại dương, ngót 4 ngàn sinh mạng mới được tàu Clara Maersk của Đan Mạch cứu vớt đưa vào đảo Hongkong buổi tối ngày 4 tháng 5 năm 1975. Anh cũng theo đoàn người vào trại tị nạn Sekkong, và được đưa qua tiểu bang Washington đoàn tụ với gia đình vào đúng tháng 9 sinh nhật thứ 31 của anh. 
Cũng tháng 9 năm ấy, em nhớ chăng, anh đã tình cờ gặp em trong một buổi họp mặt tại Seattle do Cơ Quan USCC tổ chức. Khi tên Quốc-Nam được giới thiệu, anh thấy vợ chồng em tiến lại phía anh. Mặt em đỏ bừng và giọng run run em nói: ‘Có phải ông là nhà thơ Quốc Nam, tác giả tập thơ Người Vào Cuộc Chiến?’ Anh đứng dậy, rất cảm động, đưa cả hai tay nắm chặt lấy bàn tay của cặp vợ chồng trẻ, và gật đầu. Em giới thiệu chồng em là một Bác Sĩ tị nạn. Khi còn ở quê nhà, vợ chồng em thường xuyên nghe chương trình thi ca Mây Tần của Đài Phát Thanh Sài-Gòn, và rất thích những giòng thơ của Quốc Nam được ngâm qua làn sóng điện. Thuở học trò, em từng cắt một số bài thơ của anh đăng trên báo, để lưu giữ trong một tập sách thơ riêng. Anh ngây người trước chiếc áo dài màu tím em mang trên thân thể tuyệt mỹ. Giọng con gái Miền Nam và đôi mắt đẹp như hồ thu của em bỗng làm trái tim anh xao xuyến. Em say sưa nói về những bài thơ của anh trong thi tập Người Vào Cuộc Chiến (xuất bản năm 1969), và không ngờ là có thể gặp Tác Giả ở nơi xứ lạ quê người, khiến người chồng có vẻ khó chịu lôi em đi nơi khác. 
Từ đó, em và anh thường nói chuyện về thi ca với nhau qua điện thoại hàng giờ mỗi ngày. Anh được biết em là con gái của một điền chủ giàu có ở Định Tường. Chồng em là một học sinh nghèo, đã được ba má em giúp đỡ đi học qua bậc Tú Tài toàn phần, vào trường Đại Học Y Khoa để trở thành một Bác Sĩ. Em thương chồng nhưng không nể phục, nên đôi khi cãi vả nhau, bởi lẽ em cho rằng anh ta cưới em là vì lợi dụng sự giàu có và thế lực của gia đình em. Em thú nhận là yêu thi ca Việt Nam vô cùng, cũng như em đã yêu giòng thơ lãng mạn mà đầy tình tự quê hương dân tộc của Quốc Nam từ tuổi 16, và ước ao có dịp gặp mặt Tác Giả.
Anh vui sướng vô cùng, vì biết được rằng ít ra thơ mình cũng có một người con gái xinh đẹp Miền Nam là hồng nhan tri kỷ, chẳng khác gì câu chuyện giữa Bá Nha và Tử Kỳ bên Trung Hoa thuở xa xưa.
Anh đã tâm sự với em về cuộc đời gian truân của anh. Khi mới lên 10 tuổi, anh đã cùng bố mẹ vượt biển suýt chết mất xác, để di cư vào Miền Nam cuối năm 1954. Gia đình anh thuộc loại khá giả ở một làng quê miền Bắc. Tuy nhiên, khi bỏ trại định cư ra ngoài tự lập với hai bàn tay trắng, bố mẹ anh chỉ đủ tài chánh mua một căn nhà trong xóm lao động nghèo ở đô thành Sài-Gòn. Mẹ anh tuy gốc gác tiểu thư, nhưng bà đã phải tần tảo buôn bán ngoài chợ để nuôi 5 anh em của anh đều thành tài.
Anh biết làm thơ từ năm 12 tuổi, và mưu sinh bằng nghề cầm bút từ năm 19 tuổi. Sau khi trở thành một sĩ quan hiện dịch, anh là một người lính đánh giặc miệt mài, rồi hoạt động mạnh trong lãnh vực xã hội cũng như chính trị, luôn luôn chống bọn cường quyền tham nhũng, và bênh vực những người cô thế. Chính bởi vậy, anh đã bị ám sát 2 lần tại Hốc Môn và Củ Chi.
Khi anh bước chân xuống con tàu định mệnh Trường Xuân rời cảng Sài-Gòn, thì anh đã tự nhủ với lòng mình rằng: ‘Ta đã mất nước, nghĩa là đã mất hết mọi thứ, kể cả sự nghiệp và tiền bạc. Ta đã trở thành con số không. Vậy ta phải làm lại cuộc đời từ đầu, với lòng nhẫn nhục tối đa’.
Tại đô thị ngọc bích Seattle, anh đã gặp em, một người thiếu phụ duyên dáng và tâm hồn ngát một màu thơ. Như tiếng sét ái tình giáng xuống giữa đôi ta, anh và em đều nghe trái tim mình rung động mãnh liệt như chưa từng. Trong đôi mắt nhau đã là cuộc tình bất diệt. Dù rằng cả hai đều đang có người phối ngẫu bên cạnh. 
Sau lần gặp gỡ định mệnh đó, em đã nghiễm nhiên trở thành nàng-thơ-không-rời của riêng thế giới thi ca anh. Đôi ta yêu nhau đắm đuối lạ thường. Nhưng truyền thống lễ giáo Á Đông đã vô hình chung ngăn cản đôi ta dừng lại nơi biên giới giữa tình yêu và tình dục. Trên những phong cảnh tuyệt đẹp của tiểu bang màu xanh Washington, đôi ta đã hẹn hò và tình tự bên nhau. Như nơi công viên trên đỉnh Rainier 14 ngàn 410 feet (núi cao thứ tư ở lục địa Mỹ Châu), bờ hồ Washington, vịnh Elliott, tháp Space Needle v.v... Những lần gặp gỡ tuyệt vời như thế, khi về nhà anh đều làm một bài thơ tặng riêng nàng-thơ của anh, và em tỏ ý rất trân qúy những vần thơ lãng mạn ấy, vì nghĩ rằng đó là món ăn tinh thần suốt cuộc đời còn lại của em.
Em nhớ chăng, ngày đôi ta du ngoạn đảo Victoria rực rỡ của miền Tây Gia Nã Đại. Giữa vườn hoa vĩ đại có hàng ngàn hoa hồng đủ loại, em nói sắp cùng chồng di chuyển về tiểu bang California để lấy bằng hành nghề Bác Sĩ tại Hoa Kỳ, anh đã nắm chặt hai vai em và nhìn thẳng vào đôi mắt rướm lệ của em. Bất chợt em ôm chầm lấy anh. Anh cực kỳ xúc động, đã hôn nhẹ lên đôi môi mọng đỏ của em. Nhưng đôi ta mới chạm vào môi nhau, đã như có một luồng điện đẩy ra, khiến cả anh và em đều bủn rủn tay chân. Nụ hôn tuy rất nhẹ nhưng gây xúc cảm tột cùng, và anh cho đó là nụ hôn thần thánh, bỗng chốc trở thành bất tử trong cuộc tình kỳ lạ của hai tâm hồn đồng điệu yêu thi ca Việt Nam. Đó cũng là nụ hôn đầu tiên và cuối cùng của đôi người-thơ yêu nhau tha thiết nhất trên hành tinh này.
Sau khi đôi ta chia xa nhau, anh đã lao mình vào những sinh hoạt văn hóa và cộng đồng. Anh làm việc bất kể ngày đêm, mỗi ngày tối thiểu 12 tiếng đồng hồ và 7 ngày mỗi tuần. Em biết tại sao không? Trước hết là tìm quên, để anh không còn thời giờ nghĩ nhớ đến em, người thiếu phụ có giọng nói ngọt ngào Miền Nam với chiếc áo dài màu tím hoa sim mang hình ảnh quê hương dấu yêu, mà anh đã thầm gọi là ‘Người Tình Quê Hương’. Đồng thời, anh còn thiếu một món nợ ân nghiã phải đền trả đối với những đồng bào của đôi ta, còn sống cơ cực tại quê nhà dưới chế độ hà khắc của Đảng Cộng Sản VN, nên anh cần vận dụng mọi phương tiện có thể, để nói lên những ước vọng bình thường của đồng bào trong nước đối với Thế Giới Tự Do. Bởi vì khi còn là một chiến sĩ xông pha ngoài chiến địa, một lần anh bị thương trận mất gần hết máu trong người. May nhờ những lượng máu của một số đồng bào vô danh bơm đủ vào thân thể anh, nên đã cứu mạng sống anh đến ngày hôm nay. Như vậy, số lượng máu hiện luân lưu trong châu thân anh gồm một nửa của mẹ cha, và một nửa của đồng bào góp lại. Do đó, anh có bổn phận giữ trọn hiếu với mẹ cha, và sống trọn nghĩa với đồng bào ruột thịt.
Em yêu dấu,
Trong gần 1/4 thế kỷ lăn lộn trong các sinh hoạt của các cộng đồng người Việt tại một số tiểu bang Hoa Kỳ, anh đã hiểu được phần nào tại sao người mình có quá nhiều lãnh tụ, và người thừa hành thì ít. Bởi lẽ phần lớn qúy vị lãnh đạo hội đoàn thường ‘nói nhiều làm ít’, vẫn giữ cái ‘tôi’quá lớn, và bệnh hoang tưởng đã ăn sâu bám rễ trong đầu óc họ. Giữa bối cảnh tị nạn tang thương đó, anh đã thu thập được nhiều cảnh đời cười ra nước mắt, và cố gắng hoàn thành cuốn trường thiên tiểu thuyết mang tựa đề ‘Chuyện Người Buôn Ảo Mộng’ dự trù dày trên một ngàn trang. Và chắc chắn trong cuốn sách đó sẽ có hình ảnh thiên thần của em, Người Tình Quê Hương tuyệt vời nhất đời thi ca của anh. Trong tiểu thuyết này, cũng sẽ có mảnh đời của một người buôn ảo mộng cực kỳ độc đáo. Đó là một ông-làm-báo rất nhà nghề, từng sáng lập ra nhiều tờ báo và tạp chí văn học nghệ thuật tại Hoa Kỳ. Ông có vợ, và các con đều đã lớn khôn. Đầu óc cáo già của ông mang nhiều giấc mộng lớn. Ông có một người tình trẻ cỡ tuổi con gái lớn của ông, nhan sắc tuy dưới mức trung bình một chút song thân thể cũng đang độ nẩy nở, hấp dẫn được một ông già lục tuần như ông. Mộng của ông là biến cô bồ nhí quê mùa trở thành nữ chủ nhân một đại nhật báo Việt ngữ ở hải ngoại. Bỗng dưng anh trở thành người trong cuộc, khi ông ta đã nhờ anh lên sân khấu phong chức Chủ Bút cho cô nhân tình của ông. Trước đó, ông đã mua bảo hiểm nhân thọ một triệu Mỹ kim cho mình. Hai người hưởng ‘beneficiary’ do chứng khoán bảo hiểm của ông là vợ ông và cô nhân tình, mỗi người sẽ được nửa triệu Mỹ kim, nếu ông qua đời.
Ít lâu sau, cô bé đứng tên trên pháp lý làm Giám Đốc nhật báo nọ, nắm hết tiền bạc của tờ báo do ông tạo dựng lên bằng biết bao công sức, và tìm cách hất cẳng ông ra khỏi cơ sở báo chí ấy. Trong khi sang đoạt tài sản của ông-làm-báo chuyên buôn ảo mộng nêu trên, cô bé đã tìm được một anh nhân tình mới. Quá uất ức vì bị cô nhân tình phản bội và cướp đoạt toàn bộ tài sản của mình, ông già tự tử. Nhưng ông vẫn để lại số tiền bảo hiểm nhân thọ lớn cho hai người nữ, mà có lẽ ông còn yêu thương cho đến khi nhắm mắt lìa đời. Anh cho đó là một thiên tình sử lãng mạn, bi đát và kỳ lạ nhất trong lịch sử tị nạn VN hải ngoại từ năm 1975 đến nay. Bởi vì một người đàn ông làm việc suốt đời chưa chắc đã dành dụm được vài trăm ngàn Mỹ kim, nhưng ông-làm-báo này khi nhắm mắt lìa đời đã để lại cho 2 người phụ nữ đi qua đời ông mỗi người nửa triệu Mỹ kim. Tuy nhiên, em yêu dấu ơi! Tấn bi hài kịch như vậy đã không đóng màn lại ngay, mà cô bé ẵm số bạc nửa triệu Mỹ kim cùng tài sản từ tờ nhật báo của ông-làm-báo, đã vong ân bội nghĩa với người chết một cách tồi tệ. Vợ chồng cô bé đã loại bỏ tên người sáng lập nhật báo ra khỏi trang đầu tờ báo, và đã bao nhiêu năm trôi qua, bọn vong ân bội nghĩa này đã chưa một lần làm lễ giỗ hoặc nhắc nhở đến công lao to lớn của ông già đối với cuộc đời của họ trên một cột báo nào! 
Em yêu dấu,
Chuyện về những người buôn ảo mộng thì còn nhiều, nhiều lắm. Sau này, em coi cuốn sách ‘Chuyện Người Buôn Ảo Mộng’ sẽ biết rõ hơn những cảnh hỉ, nộ, ái, ố trong các cộng đồng ta ở hải ngoại.
Thư anh viết cho em cũng đã khá dài. Anh tin rằng em sẽ hiểu anh hơn những điều anh viết ra đây. Kể từ ngày đôi ta xa lìa nhau đến nay, hình ảnh em với chiếc áo dài màu tím vẫn nằm sâu trong tim óc anh, rực rỡ, không rời. Anh vẫn yêu em vô cùng và mãi mãi, dù đôi ta rất khó có cơ hội sum họp. Trong nỗi niềm tuyệt vọng ngọt ngào đó, anh chợt khám phá ra rằng: khi thấy bất cứ người phụ nữ Việt Nam dịu dàng và ân cần nào trong chiếc áo dài quê hương, anh cảm thấy như hình ảnh ‘Người Tình Quê Hương’ đang hiện diện trong khoảng không gian ngạt ngào sắc hương. Ở đó, trong mỗi người-nữ-áo-dài đã là một ẩn hiện của một quê hương thắp sáng trong tận đáy sâu tâm hồn thi nhân anh. Và anh thực sự yêu em vô cùng tận, hỡi Người Tình Quê Hương trăm năm ngóng đợi.
Ở phương trời nào đó trên mặt địa cầu, anh cầu chúc em-yêu-dấu mãi mãi là một Người Tình Quê Hương xinh đẹp tuyệt vời, và gặp vạn sự như ý trong cảnh đời lưu vong. Anh xin cám ơn nàng-thơ-áo-tím vẫn dành cho anh một tình yêu không hề nhạt phai, dù đã trải qua gần phần tư thế kỷ đôi ta xa cách nhau muôn trùng.  
Hẹn em mai này cùng trở về xây dựng lại quê mẹ, trong ánh sáng Tự Do Dân Chủ trải dài trên khắp Ba Miền đất nước thân yêu. 
Washington, ngày 15 tháng 9 năm 1999    
Hôn em,
Tình Quân của Quê Hương Việt Nam

(Sáng tác bởi QUỐC NAM)


Thư Cho Con Gái Yêu Dấu
* Tưởng niệm con gái thứ hai của tôi (1971-2002), Nguyễn Helena Quỳnh-Ly, đã ra đi vĩnh viễn ngày 26 tháng 2 năm 2002. (QN)

Con gái yêu dấu của Bố,
Ngày này cách đây sáu năm con đã lọt lòng Mẹ, giữa lúc Bố đang lặn lội ở vùng quê nghèo khổ để đấu tranh cho lý tưởng Tự Do, mà Bố nghĩ rằng rồi sẽ ngời sáng.
Bây giờ là tháng bảy. Mùa hạ ở quê người nóng như hun như đốt. Những cánh đồng lúa vàng rực màu nắng mới. Con sẽ lớn lên và rong chơi trên vùng đất màu mỡ nơi đây, hay sẽ tìm về quê hương của Bố Mẹ để uống nước sông Hồng hay để tắm mát giòng Cửu Long Giang ngọt dịu tình người. Làm sao Bố nhìn được một tương lai chỉ có thể vẽ lên bằng ảo mộng...?
Nhưng mãi mãi... Bố hình dung lại tất cả khung trời nở hồng buổi sáng hôm ấy, Bố gặp con trong chiếc nôi nhỏ bé, bên nụ cười Mẹ chứa chan yêu thương mà mệt mỏi. Bố thoáng ân hận, đã không có bên cạnh Mẹ để săn sóc khi con mở mắt chào đời. Ly Ly, Bố bao giờ cũng thương con bằng tình Trường Sơn cao rộng.
Bố nhớ hơn lúc nào hết, con đã sinh ra nơi một vùng đất chiến tranh dai dẳng tương tàn, có nước mắt tủi buồn nhiều hơn tiếng reo vui òa vỡ. Bố đã hy sinh một phần máu xương của Bố và cả tâm hồn của Bố cho quê hương nghiệt ngã. Nhưng đến hồi chung cuộc, Bố vẫn chưa làm được việc gì đáng kể, để quê hương mình bớt đau thương khổ nhục. 
Ở quê nhà, nỗi ưu tư của Bố mỗi ngày mỗi lớn rộng, nên Bố đã phải đi xa hoài. Vì vậy, Bố đã không thể ở bên Mẹ và con thường xuyên, kể cả lúc con chào đời.
Trong giây phút các thân hữu của gia đình mình họp mặt tại căn nhà này mừng Sinh Nhật thứ sáu của con, Bố muốn nhắc nhở con gái yêu dấu của Bố rằng: con phải luôn luôn nhớ thương Bà Ngoại. Bởi chính Bà Ngoại đã đùm bọc con và chị con trong những tháng ngày sơ sinh, khi mà Bố thì bôn ba công việc bên ngoài và Mẹ con thì còn quá trẻ. Ngoại đã ẵm bồng con, săn sóc con và yêu thương con như chính thịt máu của Bà. Bố mãi mãi nhìn hình ảnh Bà Ngoại là một người đàn bà Việt nam toàn bích, đầy đủ mọi đức tính cao cả của người phụ nữ Á Đông, và xứng đáng là một bà mẹ gương mẫu của Việt Nam. Song con ạ, Bà Ngoại con đã bỏ ra đi quá vội vã khi tuổi chưa đầy 48, khi mà Bà ngoại chưa được hưởng một chút sung sướng nào của một xã hội văn minh tiến bộ nhất thế giới, và bà Ngoại cũng chưa thể đạt được ước mơ nhìn thấy hạnh phúc của cậu hai con (anh của Mẹ) và vợ cậu đang sống cơ cực ở quê nhà. Giờ thì Ngoại con đã nằm  yên trong lòng đất lạ, vĩnh viễn xa lìa thân bằng quyến thuộc, để lại cho Bố Mẹ nỗi thương nhớ khôn nguôi.
Ly Ly, rồi con sẽ lớn khôn. Con là nguồn hy vọng rất xanh của Bố và Mẹ. Sống giữa một xã hội văn minh vật chất, Bố muốn con giữ mãi được tính đoan trang, nhu mì tuyệt vời của người thiếu nữ Việt Nam. Bố muốn con và chị con cùng Bố ca ngợi bằng tất cả trái tim và khối óc hình ảnh cần cù nhẫn nại của hai người đàn bà Việt Nam: đó là Bà Nội và Bà Ngoại của con. Bố muốn con nồng nàn yêu mến quê hương Việt Nam và ngôn ngữ Việt Nam, hơn tất cả những thứ gì mà con có thể có trên đời. Bố tin con thông minh và quả cảm, như là đặc tính của dân tộc Việt Nam, sẽ làm hãnh diện cho Bố Mẹ và quê hương Việt Nam nơi mảnh đất trù phú Hoa Kỳ.
Ngày Sinh Nhật thứ sáu của Ly Ly, Bố Mẹ đặt hy vọng vào con và chị con, sẽ mãi mãi chứng tỏ mình là người Việt Nam máu đỏ da vàng, sống cho niềm hãnh diện của quê hương xứ sở, hòa mình với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, và đừng ích kỷ sống cho hạnh phúc của cá nhân mình quá nhiều.
Bố cầu chúc cho con được luôn luôn tươi vui, an mạnh và đầy ơn Chúa Thánh Thần
Miền Trung Tây Hoa Kỳ ngày 27/7/1977
Hôn con,
Bố của Ly Ly.
Quốc-Nam

Thư Cho Con Gái Đầu Lòng
Con gái yêu quý của Bố,
Lại một đêm trừ tịch tha hương đến với Bố. Đêm ở đây lạnh lùng và lạc lõng. Nỗi cô đơn vây phủ tâm hồn Bố. Con gái của Bố đã ngủ êm trong chiếc nôi hạnh phúc xứ người.
Ngày mai là đầu năm mới. Là ngày Tết Nguyên Đán truyền thống của dân tộc mình. Bố không sao dỗ giấc ngủ được. Bố ra bàn viết và muốn ghi lại cho con một vài ý nghĩ sâu kín nhất của tâm hồn Bố, để mai sau khi lớn lên, Bố mong rằng con sẽ hiểu tâm tình Bố và thương Bố nhiều hơn.
Bây giờ thì con gái đầu lòng của Bố còn quá nhỏ, để thông cảm với tâm trạng ray rứt của Bố đối với Quê Hương Dân Tộc. Chưa đầy 11 tuổi đầu, con làm sao hình dung được sự gắn bó đau đớn với mảnh đất quê hương của lòng người lưu vong mòn mỏi như Bố. Nhưng có một điều con đã nhìn thấy, gần 6 năm qua, sao nhà mình vẫn nghèo, và Bố Mẹ thì làm việc đầu tắt mặt tối! Gia đình mình từ ngày đặt chân đến xứ sở màu mỡ Hoa Kỳ tới nay vẫn sống an phận trong những căn nhà nhỏ hẹp dành cho người lợi tức thấp. Cùng lúc đó, những người di cư khác đồng thời gian với Bố Mẹ đã trở nên khá giả, và hưởng thụ một đời sống vật chất xa hoa.
Bố nhớ rất rõ nhiều lần con đã nói với Bố: ‘Sao Bố không bỏ làm báo đi? Làm báo như Bố đâu có tiền!’ Đúng, lời con tuy ngây thơ nhưng rất đúng. Bố làm báo suốt 5 năm nay chưa hề có một đồng lương, hay ngửa tay nhận tài trợ của bất cứ Cơ Quan nào. Tuy nhiên, con ạ, Bố chưa thể bỏ được. Nếu Bố bỏ làm báo, thì thực tình Bố sẽ không biết làm gì để che lấp những giờ phút ở nhà; và thời giờ trống rỗng chính là nỗi ám ảnh kinh hoàng nhất đối với Bố. 
Con ơi! Bố coi sự làm việc ngày đêm như một cách hành xác, để làm nghĩa vụ với anh em đồng đội của Bố còn ở lại quê nhà, và với hàng chục triệu đồng bào hiện bị kìm kẹp trong hỏa ngục Việt Nam. Bố không thể sớm hưởng thụ đời sống vật chất ở xứ người, vì như thế là Bố  đã phản bội họ. Bởi lẽ xác thân Bố còn tồn tại được đến ngày hôm nay là nhờ chính những đồng bào ruột thịt xa lạ đã cứu sống Bố.
Con biết không, khi Bố là một người lính chiến bảo vệ Chính Nghĩa Tự Do, Bố bị thương trận hai lần. Song lần đáng nhớ nhất là vào mùa xuân 68, khi Bố hướng dẫn 2 trung đội tấn công vào một vị trí địch, Bố đã bị bắn ngã ngay từ phút đầu, cánh tay phải gãy nát. Bố gục xuống đồng ruộng sình lầy, máu chảy xối xả, và máu xương Bố đã thấm sâu vào lòng đất quê hương nghiệt ngã. Sáu đồng đội gục chết cạnh Bố. Một số đồng đội khác bị địch bắn hạ khi bò lên tải thương Bố. Sau nửa tiếng đồng hồ, máu Bố ra nhiều quá, và Bố bị mê man bất tỉnh. Lúc tỉnh dậy trên giường Tổng y viện Cộng Hòa, Bố nghe tiếng cô y tá bên tai: ‘Thiếu Úy may mắn lắm. Thiếu Úy mất quá nửa số lượng máu trong người khi được tải thương về đây. Đáng lẽ Thiếu Úy đã chết trên trực thăng cứu thương rồi’.
Bố thoáng hiểu rằng người ta đã tiếp máu vào đầy thân thể Bố. Hơn nửa lượng máu trong người Bố là của nhiều người khác góp lại, là máu của những đồng bào mà Bố không hề biết tên. Vậy là đời Bố đã chịu ơn lớn của đồng bào. Máu của đồng bào mình đã cứu sinh mệnh Bố; những giọt máu quý báu ấy đã chan hòa châu thân Bố. Ơn tái sinh đó làm sao Bố quên được. 
Bây giờ, máu trong thân thể Bố một nửa là của mẹ cha và một nửa là của đồng bào ruột thịt. Và hiển nhiên, Bố có bổn phận giữ trọn hiếu với mẹ cha, và trọn nghĩa với đồng bào. 
Con gái Bố biết không, sau ngày thay đổi máu huyết ấy, tính tình Bố hoàn toàn đổi khác. Bố đã hết sức nhẫn nhục trước mọi biến cố trong đời, thay vì trước đó tính Bố nóng như lửa đốt, mỗi lần có chuyện gì bất bình là Bố xử dụng bạo lực để giải quyết. Và cũng kể từ dạo ấy, Bố sẵn sàng nhận chịu những ngọn roi đời giáng lên đầu, mà không một lời than van hờn oán.
Hai năm sau, Bố kết hôn với Mẹ con, một thiếu nữ duyên dáng của đất Thần Kinh. Mẹ lấy Bố là đã chấp nhận cuộc đời sóng gió của Bố. Con và em con ra đời tại miền Nam mưa nắng hai mùa. Bố lớn lên bên dòng Hồng Hà nắng đỏ. Vậy là gia đình mình có cái may mắn được kết hợp bởi ba Miền quê hương yêu dấu: Bắc - Trung - Nam.
Kìa, tiếng pháo giao thừa đã rộn nổ, vọng lại từ khu phố Tàu. Chùa giờ này chắc cũng ồn ào náo nhiệt người đến hái lộc đầu năm. Con gái của Bố đã lớn hơn năm cũ một tuổi nữa rồi. Bố mong rằng mãi mãi con vẫn giữ được bản tính nhu mì của một người con gái Việt Nam, để giữ muôn đời cho Bố Mẹ, cho các em con, cho những thế hệ mai sau những phong tục đáng yêu của Dân Tộc mình vào mỗi dịp đón mừng năm mới.
Bố cầu chúc con vui mạnh, và đầy Ơn Chúa Thánh Thần.
Seattle tháng 2 năm 1981
Bố của con.
Quốc-Nam

Bảy Năm Tang Quê

Bạn thân, 
Tháng này là tháng tư. Cái tháng tư đen ám ảnh vô cùng đám dân Việt sống kiếp Do Thái khắp nơi trên mặt địa cầu. Mùa xuân ở đây hoa nở rực hồng thành phố, và gió lạnh nhẹ làm se sắt lòng người viễn xứ.
Giờ này tôi ngồi giữa một khu phố tồi tàn của đô thị Seattle, viết ít hàng thư gởi bạn; nghĩ thật nhiều tới bạn với những đốm lệ vỡ vụn thấm vào óc vào tim, trong khi một buổi dạ vũ mùa xuân đang tưng bừng diễn ra ở một hội trường nào đó của vùng đất mù sương nơi tôi tạm dung. 
Tôi chợt hồi tưởng những đêm vũ trường ngào ngạt phấn son và men rượu nồng, cùng bạn bè dăm đứa đã ôm mấy cô gái Saigon nhảy nhót điên cuồng, sau mỗi chuyến hành quân gian lao khổ cực được đánh giá bằng chính mạng sống mình!
Bạn dư biết tuổi tôi bây giờ chưa đủ già để quên hưởng thụ những nhu cầu vật chất xa hoa, nhất là đàn bà và rượu ngon. Nhưng mỗi lần nghĩ đến bạn và anh em đồng đội đang tận cùng khổ đau trong hỏa ngục Việt Nam, lòng tôi bỗng chùng hẳn lại, bao nhiêu ham muốn đã phải đè nén xuống. 
Và những tháng ngày lưu đày nơi xứ lạ, tôi chưa một lần ra sàn nhảy quay cuồng theo nhịp nhạc gọi mời quyến rũ. Tôi đã cố gắng tìm quên trong công việc bề bộn gần như đêm ngày, bất kể thứ bảy và chủ nhật, như là một cách hành xác để chia xẻ nỗi gian truân mà anh em đang can đảm chịu đựng.
Từ ngày chia tay bạn xa lìa cố quốc tới nay đã tròn bảy năm. Bảy năm tôi sống trong dằn vặt nội tâm và luôn luôn muốn làm một cái gì cho bạn và anh em đồng đội đang quằn quại dưới ách thống trị của bọn Cộng Sản bạo tàn. Tôi đã tự nhận mình là ‘Kẻ Đào Ngũ của Quê Hương Khổ Đau’ trong khi thực sự tôi đã là một Cựu Chiến Binh bị thương trận hai lần, và phải rời bỏ quân ngũ trước năm 1975.
Giờ này không biết bạn đang ở trong trại lao tù cải tạo khốn khổ nào, hay đang lặn lội trong bưng biền để chiến đấu cho một ngày Quốc Gia Việt Nam được giải phóng khỏi tay bọn Quỷ Đỏ man rợ. 
Phần tôi, ở đây mỗi lần ngồi vào bàn ăn, hưởng một món ăn ngon, tôi thường ngậm ngùi nói với các con tôi: ‘Các con phải biết rằng giờ này ở Việt Nam, các bác các chú của các con đâu có được ăn uống đầy đủ như thế này. Nhớ đừng bỏ phí những của ăn này. Các con hãy rán tiết kiệm, để tìm cách giúp đỡ những người khốn khổ tại quê nhà...’ 
Tôi có được đọc lá thư của một người tù cải tạo (từng là Sĩ Quan cấp Tá thuộc QLVNCH) viết cho vợ hiền chỉ dám mong được ‘một hạnh phúc’ tội nghiệp rằng: ‘Anh không mơ ước gì hơn là được hưởng một bữa cơm no với ruốc mặn... và mình nhớ cố gắng kiếm cho anh xin một cuộn chỉ đen và vài cây kim để anh vá quần áo...’ Tự nhiên nước mắt tôi bỗng tuôn rơi dàn dụa, ướt đẫm trang thư. 
Bạn biết đó, khi còn ở quê nhà, bản tính tôi vốn cứng cỏi. Tôi chưa bao giờ khóc trước bất cứ thảm cảnh nào. Vậy mà không hiểu tại sao từ ngày lưu vong ở Hoa Kỳ tôi rất dễ xúc động, đến nỗi không cầm nước mắt được trước những mẩu chuyện về quê hương và đồng bào ruột thịt đang bị bọn Việt Cộng đọa đày. Trong những giờ tan sở làm, trên đường lái xe từ sở về nhà, tôi thường nghĩ đến bạn và anh em đồng đội ở quê hương nghiệt ngã; và rồi tự dưng nước mắt tôi trào ra, khiến đôi lần tay lái tôi lệch đi, suýt gây ra tai nạn trên xa lộ.
Bạn thân,
Hôm nay là 30 tháng tư năm 1982. Bảy năm tôi lưu đày biệt xứ. Bảy năm tôi đếm từng ngày lưu vong mòn mỏi. Bảy năm tôi đã khóc cho chính thân phận mình, cho thân nhân tôi, cho bạn và cho anh em đồng đội, cho quê hương thương đau của mình. Bảy năm qua tôi đã cố gắng trải dài tâm sự trên những số báo gởi đến tận tay đồng bào rải rác khắp năm châu. 
Bạn biết chăng, nhiều người đã đặt câu hỏi tại sao nhóm tôi làm ‘Báo Biếu’ một cách vô ích như vậy?! Dĩ nhiên tôi không thể giãi bày cho họ thấy hết tâm can mình được. Tôi vẫn cùng một nhóm anh chị em Quốc Gia lầm lũi làm việc hướng về bạn và anh em đồng đội trên bình diện Văn Hóa Dân Tộc suốt 7 năm qua. Chúng tôi cùng nhau tự nguyện hy sinh những hưởng thụ cá nhân, để tự nhủ mình đừng bao giờ quên quê hương mình, anh em mình đang ngóng chờ sự tiếp tay tích cực của khối người Việt hải ngoại.
Và bảy năm qua tôi đã tự ‘để tang’ cho đất nước điêu linh, cho anh em còn ở lại chiến đấu cho chánh nghĩa Tự Do tại quê nhà. Người quả phụ phải để tang chồng 3 năm cho tròn tiết nghĩa. Tôi nay ép mình để tang cho quê hương nghiệt ngã đã bảy năm tròn, như là giữ phần nào lời hứa với bạn và anh em đồng đội trước ngày bỏ nước ra đi. Bảy năm để tang cho quê hương Việt Nam, tôi tuy chưa làm được chuyện gì lớn lao cho đất nước, nhưng tôi cũng đã bỏ xa những quyến rũ xa hoa vật chất chung quanh, để ít ra giữ được tiết nghĩa với Tổ Quốc và Dân Tộc bất hạnh bên kia bờ Thái Bình Dương.
Tuy nhiên, cũng trong bảy năm qua, tôi đã nhận được khá nhiều thư từ của bạn bè cũ, đồng đội cũ từ quê nhà gởi sang xin giúp đỡ vật chất. Bạn hiểu cho, tôi làm gì ra tiền nhiều để có thể giúp anh em đang đói khổ đây??? Và tôi chợt nhận ra rằng tài chánh để giúp đỡ anh em ở lại cũng là điều cần thiết; đó là chưa kể đến việc ‘tích tiểu thành đại’ có thể giúp anh em một số vũ khí để chống lại bọn gian ác Việt Cộng.
Vậy thì cố gắng kiếm tiền ở xứ sở màu mỡ này là một phương cách tốt, nếu ta biết dùng đồng tiền đó vào những mục tiêu ích quốc lợi dân. Phải không bạn? Tôi hy vọng rằng không bao lâu nữa những người Việt Quốc Gia tâm huyết khác và nhóm tôi có thể yểm trợ được phong trào Phục Quốc tại quê nhà ít nhiều, bằng chính đồng tiền mồ hôi nước mắt của mình.
Bạn thân,
Thư viết đã dài. Tôi mong bạn hiểu tôi hơn những điều tôi viết lên đây. Lá thư này xin tự nhận rằng nó không được viết bằng văn chương sáo ngữ, mà tôi viết bằng những lời chân thành mộc mạc của một chiến hữu của bạn đã từng cầm súng chiến đấu dưới bóng Cờ Vàng, và đã hơn một lần đổ máu trên mảnh đất quê hương yêu dấu.
Tôi cầu chúc bạn đầy đủ nghị lực để mai  này cùng toàn dân vùng dậy đánh đổ bạo quyền Cộng Sản giành lại Tự Do - Thanh Bình - No Ấm cho xứ sở. Xin Trời Đất chứng giám tình bạn và tình quê hương bất diệt trong mỗi chúng ta. 
Miền Tây Bắc Hoa Kỳ ngày 30/4/1982
Trong tình cố quốc,
Bạn Thân Của Bạn.
Quốc-Nam (1982)

Last Updated on Saturday, 20 June 2015 18:37
 

Sổ Vàng

An-Lộc Foundation