Font Size

Profile

Menu Style

Cpanel
Phong Thu: Tham luận về Văn Chương Phụ Nữ VN Hải Ngoại. PDF Print E-mail
Written by Editor   
Wednesday, 04 September 2013 10:45

Tham luận

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ CẦM BÚT VN TRÊN BƯỚC ĐƯỜNG LƯU VONG VÀ SÁNG TẠO VĂN HỌC.

* Phong Thu

LTS.- Tác giả bài tham luận dưới đây là nữ văn sĩ Phong-Thu. Cô sinh trưởng tại, Bình Dương, Việt Nam. Cựu học sinh trung học Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn. Tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn. Tại Mỹ, University School of Pedagogy cấp chứng chỉ tương đương Cử Nhân, tốt nghiệp Mongomery College (Maryland). Tại VN, cô là giáo chức trường Cao Đẳng Sư Phạm Bình Dương.

Cô bắt đầu viết từ năm 1980, hiện đang cộng tác với nhiều báo chí và các tạp chí văn học, gồm: Cỏ Thơm, Cội Nguồn, Văn Chương Việt, Văn Tuyển, Website Phù Sa, Văn Nghệ Tiền Phong, Đàn Chim Việt; và Đài Á Châu Tự Do (RFA).

Những tác phẩm đã xuất bản: The Rain Still Falls In Saigon (Tập truyện ngắn song ngữ Việt-Mỹ do nhà xuất bản Xlibris ấn hành năm 2011); Đóa Phù Dung (Tập truyện ngắn, Hoa Kỳ 2005); Cô Bé Bên Giàn Hoa Giấy Đỏ (Tập truyện ngắn, Hoa Kỳ 2002); Mùa Xuân Không Bao Giờ Quên (Truyện ngắn, viết với nhiều tác giả); Chuyện Một Người (Truyện ngắn in chung với nhiều tác giả); Một Chuyến Đi (Ký in trong tập Dân Ca Sông Bé trong quá trình nghiên cứu sưu tầm Dân Ca VN); Tập truyện thiếu nhi: Gấu Bông Giúp Bạn, do nhà xuất bản Tổng Hợp Bình Dương xuất bản năm 1990; Truyện kể “Vì Sao Hoa Phượng Đỏ”, trích trong tập truyện thiếu nhi “Gấu Bông Giúp Bạn” đã được xưởng phim Tổng Hợp Sài Gòn chọn dựng phim truyện cho thiếu nhi năm 1991.

alt

"Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ VN được nhà thơ Quốc Nam (Tổng Giám Đốc đài phát thanh SRBS của Cơ Sở Văn Hoá Đông Phương) sáng lập từ năm 2005 tại Seattle, Washington State. Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ không chỉ thuần túy dành cho những nữ văn nghệ sĩ làm thơ, viết văn, âm nhạc, hội hoạ… mà còn mở rộng cho tất cả những nữ chủ báo, đài truyền thanh, truyền hình đã đóng góp tích cực cho tiếng nói, văn hoá Việt Nam được trân trọng, bảo vệ và truyền đạt lại cho các thế hệ trẻ tiếp bước.

Lần đầu tiên ĐHVCPN tại Seattle, quy tụ khoảng 18 nữ lưu thì Đại Hội lần thứ 2 được tổ chức tại Washington D.C đã có hơn 30 người. Năm nay, Đại Hội đã được tổ chức tại San Jose, thành phố “Thung Lũng Hoa Vàng”, đã thu hút 49 phụ nữ cầm bút trên khắp thế giới về tham dự.

Theo bước chân của nhân loại, kể từ khi loài người xuất hiện, dù phải trãi qua nhiều chế độ, quốc gia khác nhau nhưng người phụ nữ vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng trong gia đình, xã hội và quốc gia. Một số phụ nữ thông minh xuất chúng cũng đã xuất hiện. Họ là những nữ nhân cam đảm, mưu lược, tài trí hơn người, đã lãnh đạo các phong trào tranh đấu trong nhiều lãnh vực chính trị, xã hội, văn hoá như: Emmeline Pankhurst (sinh tại  Goulden; ngày 15 tháng 1858 – mất ngày 14/06/1928) là một nữ chính trị gia lừng danh của Anh (a British political activist)

Trước công nguyên đã có Nữ Hoàng Hatshepsut, vua của Egypt Reign (1479 BC to 1458 BC). Hatshepsut  được những nhà Ai Cập Học đánh giá bà là một trong những vị vua nữ thành công nhất, trị vì lâu hơn bất cứ người phụ nữ khác của triều đại Ai Cập từ khoảng 1479-1458 trước Công nguyên. Hai mươi hai năm và 9 tháng cai trị, Hatshepsut tái lập các mạng lưới thương mại, xây dựng một triều đại thịnh vượng, giàu có nhất của triều đại thứ mười tám. Hatshepsut cũng là một trong những vị vua đã cho xây dựng nhiều công trình kiến trúc nhất của Ai Cập cổ đại tại Thượng và Hạ Ai Cập. Theo Wikipedia, bà còn hoạch định cho các chiến dịch quân sự thành công tại Nubia, miền Cận Đông và Syria.

Ngay tại Hoa Kỳ, người phụ nữ ngày nay bình đẳng với nam giới, được tham gia hoạt động trên mọi lãnh vực, nhưng họ cũng đã phải trãi qua một quá trình tranh đấu lâu dài gần 70 năm mới có. Những phụ nữ tiên phong, can đảm nầy là bà Lucretia Mott (1793 – 1880) và Elizabeth Cady Stanton (1815-1902), Mott cùng với Elizabeth Cady Stanton, và Lucy Stone, Alice Paul (1885-1977), một nữ luật sư nổi tiếng và là một nhân vật có ảnh hưởng lớn trong phong trào, đã tiếp tục con đường tranh đấu cho nữ quyền. Và cuối cùng Tu Chính Án 19 đã được trình lên lên Quốc Hội vào năm 1918, và được các cấp đồng thuận, phê chuẩn vào ngày 18 tháng tám 1920.

Trong thập niên 60, 70, chúng ta cũng cần nhắc đến một phụ nữ tên tuổi đã tranh đấu cho quyền tự do, bình đẳng cho tất cả mọi người là bà Rosa Louise McCauley Parks (sinh ngày 04/ 02/1913 – mất ngày 24/10/2005) người Mỹ gốc Africa. Bà là bạn tranh đấu chung với Mục sư Martin Luther King. Bà được Quốc Hội Koa Kỳ vinh danh "the first lady of civil rights" and "the mother of the freedom movement". Ngày sinh và ngày bà bị bắt đã trở thành ngày kỷ niệm “Rosa Parks Day” tại hai tiểu bang California & Ohio.

Dù phụ nữ chúng ta được hưởng tự do, bình đẳng với nam giới. Nhưng hiện nay, phụ nữ của nhiều nước trên thế giới vẫn sống trong cảnh đọa đày, bị buôn bán làm nô lệ tình dục, bị đánh đập, hãm hiếp, giết chết trên đường phố như ở Ai Cập, Ấn Độ và tại các nước Trung Đông. Việt Nam cũng là một trong những nước buôn bán phụ nữ sang các nước làm nô lệ tình dục đứng vào hạng cao nhất.

Khắt khe và đớn đau hơn là phụ nữ không được đi học, không được tham gia hoạt động xã hội như tại các nước Hồi Giáo tại Trung Đông. Hay các bé gái vừa chào đời đã bị giết chết.

Chúng ta hẳn còn nhớ, ngày 9 tháng 10 năm 2012, thế giới đã rung động sâu sắc trước sự việc em Malala Yousafzai (14 tuổi người Pakistan) đã bị Taliban bắn trọng thương chỉ vì em mơ ước được đến trường. Sự bất công đó không chỉ ở một nước mà nó hiện diện trên nhiều quốc gia.

Hôm nay, chúng ta có thể chứng kiến thế giới biến đổi. Chúng ta thấy hình ảnh những phụ nữ thông minh xuất chúng đã xuất hiện ngày càng nhiều. Họ đã đảm nhiệm những chức vụ quan trọng, có ảnh hưởng rất  nhiều người tại quốc gia họ và trên thế giới. Tại Hoa Kỳ chúng ta có nữ ngoại trưởng Bill Clinton, Melinda Gates (vợ của tỉ phú Bill Gates), diễn viên điện ảnh Angelian Jolie…có tên trong danh sách 100 phụ nữ ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 21. Thế kỷ 21 được các nhà quan sát quốc tế đánh giá rằng đó là thế kỷ của phụ nữ. Vai trò, tài năng, sự thông minh của phụ nữ đã được khẳng định qua hành động và lời nói.

Tại Châu Á đã có nữ Tổng Thống Nam Hàn là bà Park Geun-hye, Thái Lan thì có nữ Thủ Tướng Yingluck Shinawatra (sinh ngày 21/6/1967). Bà trở thành nữ Thủ tướng Thái Lan đầu tiên trong lịch sử quốc gia này và là thủ tướng trẻ tuổi nhất của Thái Lan trong vòng 60 năm qua. Bà Aung San Suu Kyi, người phụ nữ dịu dàng nhỏ bé như một đoá hồng, nhưng với ý chí kiên định, can đảm và yêu nước, bà đã làm thay đổi vận mệnh của dân tộc Miến Điện một cách thần kỳ.

Nhìn rộng hơn sẽ thấy tại Argentina, có nữ Tổng Thống Cristina Fernández de Kirchner (sinh ngày 19/2/1953). Bà là đương kim tổng thống thứ 55 của Argentina, và là góa phụ của người tiền nhiệm Néstor Kirchner. Bà Cristina là nữ tổng thống đầu tiên của Argentina.

Dilma Vana Rousseff (sinh năm 1947), đương kim Tổng Thống thứ 36 của Brazil là người phụ nữ đầu tiên cầm đầu đất nước ở một quốc gia Mỹ La tinh.

Ellen Johnson Sirleaf năm nay 64 tuổi, là Tổng Thống thứ 24 của Liberia. Bà là phụ nữ Châu Phi đầu tiên làm tổng thống của Liberia được 7 năm.

Laura Chinchilla Miranda, 54 tuổi, là tổng thống nữ đầu tiên của Costa Rica trong lịch sử nước này. Bà là phụ nữ thứ 6 trong lịch sử châu Mỹ La tinh giữ cương vị nữ tổng thống đầu tiên của Costa Rica từ tháng 5/2010.

Dalia Grybauskaitė là nữ Tổng thống đầu tiên của nước Lithuania, bà nhậm chức tháng 7/2009.

Ngoài ra còn có các nữ Thủ Tướng lừng danh:

Angela Merkel, nữ Thủ Tướng đầu tiên của Đức. Bà làm Thủ Tướng từ năm 2005 đến nay.

Bà Helle Thorning-Schmidt, 57 tuổi, nữ Thủ tướng đầu tiên của Đan Mạch từ ngày 3/10/2011.

Julia Eileen Gillard sinh năm 1961, nữ Thủ tướng đầu tiên, thứ 27 của Australia. Bà đảm nhiệm công việc này từ tháng 6/2010 đến ngày 27/06/2013.

Sheikh Hasina sinh năm 1947, là Thủ tướng Bangladesh từ năm 2009. Trước đó, bà cũng có một giai đoạn làm thủ tướng nước này từ 1996 đến 2001.

Jóhanna Sigurðardóttir sinh năm 1942, là nữ Thủ Tướng đầu tiên của Iceland.

Kamla Persad-Bissessar sinh năm 1952, là nữ thủ tướng đầu tiên của Cộng hòa Trinidad và Tobago. Bà nhậm chức tháng 5/2010

Nhìn lại Việt Nam, chiến tranh triền miên, sau 38 hoà bình, nhưng lòng người vẫn phân ly, người dân chưa có một ngày bình an. Sự chia cắt về ý thức hệ vẫn sâu đậm và có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ. Ngoài 3% các cán bộ cao cấp sống giàu sang, sung sướng, phè phởn trên mồ hôi nước mắt của người dân, 97% dân Việt Nam còn phải chạy ăn từng ngày, phải chịu đựng sống trong cảnh địa ngục trần gian dưới chế độ Cộng Sản, độc tài, toàn trị.

Người Việt hải ngoại đã 38 năm mơ ước đất nước thực sự có tự do, dân chủ, nhưng họ cũng mỏi mòn trong niềm hy vọng. Chính niềm đau vong quốc là điểm tựa cho văn học hải ngoại xuất hiện. Nó phát sinh từ sự thiếu vắng hạnh phúc, nhưng quá thừa đau thương mất mát.  Những tâm hồn lưu lạc, tha hương vẫn nuôi dưỡng, hoài vọng một ngày mai trở lại quê nhà. Do đó, tâm tư họ được thể hiện bằng những áng văn thơ, âm nhạc, hội hoạ. Văn học hải ngoại đã nẩy nở và phát triển theo cảm xúc và giấc mơ của họ. Và đều đáng cho chúng ta ngạc nhiên, vui mừng là đã xuất hiện nhiều nữ tác giả có tài năng vượt trội, đóng góp rất nhiều cho nền văn hoá, văn học Việt Nam khắp năm châu.

Chúng ta phải hoan nghênh thế hệ thứ nhất đặt chân đầu tiên trên đất nước Âu Mỹ. Họ đã đem tài năng sn có tại quê nhà để gieo những hạt giống tốt trên quê hương mới. Trong số họ, có rất nhiều những nữ văn thi hữu tên tuổi như: Cao Mỵ Nhân, Tuệ Nga, Huệ Thu, Vi Khuê, Trương Anh Thụy, Kiều Mỹ Duyên, Bích Huyền v.v...Thế hệ thứ hai trẻ hơn và bắt đầu cầm bút sau khi lưu vong như: Nhật Hạnh*, Nguyễn Thị Mắt Nâu, Miên Du Đà Lạt, Nguyễn Thị Ngọc Dung**, Anh Thư (Úc Châu), Lê Mỹ Hân (Nhật Bản), Nguyễn Thị Thanh Dương, Linh Phương, Thu Nga, Thư Khanh, Cung Thị Lan, Bích Xuân (Paris), Jackie Bông, Lê Thị Hoài Niệm, Mai Hoài Thu v.v...Thế hệ thứ ba, thứ tư là thế hệ trẻ sinh ra sau năm 1975 hay mới xuất hiện trong vài năm gần đây cũng đã góp phần làm cho văn hoá Việt Nam trở thành một dòng chảy luân lưu liên tục. Đặc biệt, thế hệ thứ ba, thứ tư có một số người đã hoà nhập vào dòng văn học chính của đất nước mình đang sinh sống.

Có người cho rằng số lượng nữ lưu nói riêng và những người cầm bút tại hải ngoại nói chung rất phong phú cả về lượng và phẩm, nhưng vẫn chưa có một tổ chức nào đủ mạnh để tập hợp, lôi cuốn, đánh giá, phê bình đúng mức giá trị của nó. Nhiều người còn đặt ra câu hỏi “vì sao văn học Việt Nam hải ngoại vẫn chưa thể gây tiếng vang lớn trên thế giới?” Câu hỏi nhức nhối nầy vẫn chưa có đáp số. Vì chúng ta chưa tìm được những con người, một nhóm người dám hy sinh thời gian, tâm sức, dẹp bỏ lòng vị kỷ, ganh ghét, cao ngạo để khai thác, đánh giá đúng mức giá trị lớn của nó. Bởi tôi tin chắc chắn rằng đây sẽ là dòng văn học cận đại có tầm vóc rất lớn đánh dấu những bước đi thăng trầm, những hoài bão, khát vọng, mơ ước thầm kín, luôn ầm ỉ cháy trong huyết quản, của người Việt lưu vong. Chúng ta như một dòng sông đang mải miết tìm đường ra biển lớn, và dòng nước ẩn chưá niềm thương quê hương vẫn chảy về cội nguồn của dân tộc Việt Nam.

Trong khi chúng ta may mắn được sống trên một đất nước văn minh nhất hoàn cầu, được Hiến Pháp Hoa Kỳ dành cho quyền tự do nói, viết, quyền mưu cầu hạnh phúc cho cuộc sống chúng ta, thì có một số người cầm bút lại né tránh cho rằng mình chỉ biết làm văn học mà không làm chính trị. Họ quên rằng trong văn học đã có chính trị. Bởi văn học mang màu sắc triết học, xã hội học, chính trị học. Nó bàng bạc ít nhiều trong suy tư, tình cảm mà người cầm bút hấp thụ thông qua gia đình, học đường, xã hội và kinh nghiệm cuộc sống. Chính trị đã biến thái ít nhiều và được đã tái tạo lại qua những áng văn thơ thể hiện tư tưởng chủ đạo của quá trình sáng tạo. Nếu không có tư tưởng chủ đạo thì tác phẩm sẽ chỉ là những viên đá cuội, những hạt cát bị cuốn đi dưới lòng đại dương, hay cũng chỉ là những giọt mưa rào chưa làm ướt nỗi một ngọn cỏ đã khô héo và nó sẽ bị đào thải, sẽ đã biến mất trong dòng chảy của sự biến đổi xã hội. Nếu người cầm bút thiếu dũng khí, không tạo được một ngọn gió mát, một dòng nước ngọt ngào, một ngọn nến thắp lên đ óm lửa nhỏ để nuôi dưỡng khát vọng tự do, dân tộc, cho quê hương Việt Nam trường tồn, thoát khỏi hoạ phương Bắc, thì chúng ta cũng nên có một chút thành tâm hướng về quê hương VN. Nơi người dân đang bị cộng sản cai trị suốt 70 ở Miền Bắc và toàn cõi VN sau 1975. Chúng ta đừng quên đặt ra cho lương tâm mình một câu hỏi vì sao? Vì ai mà chúng ta phải ra đi, bị lưu đày triền miên trên xứ người? Đi kiếm ăn chăng? Tầm thường quá! Đi mưu cầu hạnh phúc cho riêng ta chăng? Ích kỷ quá! Chúng ta được tự do viết, nói thì cũng nên nhớ đến hàng triệu trái tim trong nước đang hướng về chúng ta và có hơn 1,000 tù nhân lương tâm với 40 dũng sĩ viết Blog trong nước vì can đảm tranh đấu cho tự do, dân chủ, cho sự thật và công lý, cho sự tồn vinh của xã tắc nhưng đã bị chính quyền cộng sản bắt giam, cầm tù và đày đoạ trong những bản án bất công, vô nhân đạo như: nhà báo Tạ Phong Tần,  Nguyễn Phương Uyên, Lê Thị Kim Thu, Nguyễn Kim Nhàn, Đinh Nhật Uy, Phạm Viết Đào, Trương Duy Nhất Lê Quốc Quân, Đinh Nguyên Kha, Đinh Đăng Định, Lê Thanh TùngTrần Vũ Anh Bình, Trần Minh Nhật, Thái Văn Dũng, Nguyễn Văn Duyệt, Nông Hùng Anh, Paulus Lê Sơn, Đậu Văn Dương, Trần Hữu Đức, Chu Mạnh Sơn, Đặng Xuân Diệu, Hồ Đức Hòa, Nguyễn Văn Oai, Nguyễn Văn LýNguyễn Công Chính, Nguyễn Ngọc Cường, Lữ Văn Bảy, Cù Huy Hà VũVi Đức Hồi, Phan Thanh Hải, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Kim Nhàn, Nguyễn Tiến Trung Trần Anh Kim, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Việt Khang. (http://vietnamhumanrightsdefenders.net/2013/07/10/phong-vien-khong-bien-gioi-thinh-nguyen-thu-keu-goi-phong-thich-35-blogger-bi-cam-tu/#sthash.ak7o8EDS.dpuf)

Lẽ nào ta làm ngơ, sợ hãi, đớn hèn hơn những dũng sĩ cầm bút đang dấn thân vào chốn lao tù?

Vũ khí của chúng là trái tim, niềm tin, bầu nhiệt huyết, tình yêu thương. Chúng ta nuôi dưỡng hy vọng, niềm tin và tái tạo lại xã hội mà chúng ta đang sống thông qua sự sáng tạo văn học, nghệ thuật, để ghi lại một dấu ấn lịch sử của những lớp thế hệ bị lưu đày đã và đang mang trên mình những vết thương bi tráng, đầy gian truân nhưng cũng chan chứa khát vọng cho tự do, dân chủ, phồn vinh cho quê hương Việt Nam.

Vũ khí của chúng ta là ngòi bút, phải sử dụng nó như một ưu thế chống lại cái ác và vươn đến đỉnh cao của Chân -Thiện- Mỹ.

Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ không phải là nơi chiếu trên, chiếu dưới, tranh tài cao thấp, hơn thua, được mất…mà là một sân chơi bình đẳng cho tất cả các thế hệ, cho tất cả những ai yêu mến văn học, mong ước góp phần bảo tồn giá trị văn hóa Việt Nam ngày một phong phú và bền vững.

Xin kính chúc Đại Hội, quý văn thi hữu, qúy truyền thông báo chí, qúy đồng hương những ngày tháng thanh thản, an lành trên bước đường lưu vong.

PHONG THU

Viết trong ngày Đại Hội Văn Chương Phụ Nữ VN kỳ 3 Tháng 8 năm 2013

Chú Thích: Ca nhạc sĩ Nhật Hạnh sáng tác hai bản hùng ca nổi tiếng “Ngũ Thần Mã Tây Sơn và Quang Trung Đại Đế”. Đây là hai bản hùng ca có giá trị lớn trong giai đọan hiện nay, nhưng rất tiếc vẫn chưa được phổ biến rộng rãi.

** Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Dung, Chủ nhiệm báo Cỏ Thơm, một tạp chí văn học có tầm ảnh hưởng không nhỏ đối với văn học hải ngoại.

***Vì không nắm hết danh sách cuả qúy nữ văn thi hữu tham dự Đại Hội nên không viết đầy đủ tên. Xin thứ lỗi.

 

Last Updated on Thursday, 12 September 2013 12:40
 

Sổ Vàng

An-Lộc Foundation